Danh xưng nơi THƯỢNG HỘI:
Hội Trưởng hay Nghị Trưởng
Hội Viên hay Nghị Viên
------------------------------
Văn kiện: THƯỢNG HỘI NỘI LUẬT
Làm tại Tòa Thánh, ngày 22 tháng Giêng năm Nhâm Thân. (Le 27 Février 1932)
Điều Thứ Nhứt: - Thượng Hội thì có:
1. Giáo Tông Hội Trưởng.
2. Hộ Pháp Phó Hội Trưởng.
3. Thượng Phẩm Nghị Viên.
4. Thượng Sanh Nghị Viên.
5. Ba Vị Chưởng Pháp Nghị Viên.
6. Ba Vị Đầu Sư Nam Phái Nghị Viên.
7. Đầu Sư Nữ Phái Nghị Viên.
Trong văn kiện đìều dùng danh xưng: Hội Trưởng và Hội Viên
Văn kiện: THƯỢNG HỘI
nhóm tại Bửu điện ngày 28-11-Nhâm Thân (25 Décembre 1932) (Tài liệu Ban Đạo Sử)
Có mặt: CỮU TRÙNG ĐÀI
Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt Chủ Tọa
Quyền Ngọc Đầu Sư Ngọc Trang Thanh Nghị Viên. ......
.....
(trang 10) .....
..... ....
Lời của Thượng Hội: Ba vị Hội Trưởng Thượng Hội, Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh, phải lo lập Nội luật cho cần kíp... ... ...
Văn kiện: CHÂU TRI
Số 2 ngày 13 tháng 5 Quí Dậu (05-Juin-1933) (Tài liệu Ban Đạo Sử)
.... ...
Chúng tôi xin cho chư Chức sắc Thiên phong và chư Đạo hữu luỡng phái hay rằng chiếu y theo luật Đạo thì Hội truởng của Hội Thánh là Thái Chánh Phối Sư và Hội trưởng của Hội Nhơn Sanh là Thượng Chánh Phối Sư,.... .....
Văn kiện: Bài Diễn Văn của Đức Quyền Giáo Tông
đọc tại Tòa Thánh, ngày mùng 8 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934). (Tài liệu Ban Đạo Sử)
......
Theo Chánh thể của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thì có ba Hội đã định quyền hành đặc biệt:
a). Thứ nhứt là HỘI NHƠN SANH:
Trong Hội Nhơn Sanh thì Chánh Phối Sư phái Thượng làm Chủ Trưởng.
Hội Viên thì từ Lễ Sanh đổ xuống, Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự và người Phái Viên thay mặt cho nhơn sanh.
Trong Nội Luật Hội Nhơn Sanh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ thức lệ.
Ấy vậy từ hàng Tín đồ cùng Đồng nhi đều có người thay mặt đặng xem xét việc Đạo rồi đệ lên Hội Thánh phán đoán.
Vạn vật cũng có ảnh hưởng trong Hội Nhơn Sanh vì Người là Chúa của vạn vật.
Xét kỹ thì Thầy công bình không xiết kể và lo việc hóa sanh không ngằn, không tận.
2). Thứ nhì là HỘI THÁNH:
Trong Hội Thánh thì có Thái Chánh Phối Sư làm Chủ Trưởng.
Hội Viên thì từ Giáo Hữu, Giáo Sư và Phối Sư thiệt thọ có trách nhiệm hành chánh đặc biệt.
Trong Nội Luật Hội Thánh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ thức lệ.
Hội Thánh có quyền xem xét các việc của Hội Nhơn Sanh dâng lên và các việc hành chánh trong Đạo rồi đệ lên Thượng Hội.
3). Thứ ba là THƯỢNG HỘI:
Thượng Hội thì cũng có Nội Luật chỉ rõ thức lệ. Trong Thượng Hội thì Giáo Tông làm Chủ Trưởng, Hộ Pháp Phó Chủ Trưởng.
Hội Viên thì có: Thượng Phẩm, Thượng Sanh, Ba vị Chưởng Pháp, Ba vị Đầu Sư Nam Phái, Và Đầu Sư Nữ Phái
... ...
Văn kiện: LUẬT LỆ CHUNG CÁC HỘI
Lập tại Tòa Thánh, ngày 16 tháng 11 năm Giáp Tuất. (22 Décembre 1934)
Điều Thứ Mười Sáu: - Thượng Hội.
Bữa Lễ Khai Hội thường lệ thì ba Nam Chánh Phối Sư đến rước Giáo Tông và Hộ Pháp và cả Nghị Viên Nam. Nữ Chánh Phối Sư thì đi rước Nữ Đầu Sư.
Văn kiện: HỘI NHƠN SANH NỘI LUẬT
Lập tại Tòa Thánh, ngày 16 tháng 11 năm Giáp Tuất. (Le 22 Décembre 1934)
CHƯƠNG THỨ NHẤT: Về Đại Hội tại Tòa Thánh
Điều Thứ Nhứt: - Chiếu theo Đạo Nghị Định thứ 4, điều thứ 7 của Đức Lý Giáo Tông và Phạm Hộ Pháp thì Thượng Chánh Phối Sư làm Nghị Trưởng của Hội Nhơn Sanh.
Hội Nhơn Sanh sắp đặt như vầy:
1. Thượng Chánh Phối Sư : Nghị Trưởng.
2. Nữ Chánh Phối Sư : Phó Nghị Trưởng.
3. Lễ Sanh, Chánh Phó Trị Sự, Thông Sự: Phái Viên, Nghị Viên.
4. Một Nghị Viên Nam và một Nghị Viên Nữ: Từ Hàn.
5. Hai Nghị Viên Nam và hai Nghị Viên Nữ: Phó Từ Hàn.
Điều Thứ Hai: - Thái và Ngọc Chánh Phối Sư và các Quản Lý Tòa Nội Chánh đều đến dự Hội, hoặc trả lời những điều nào Nghị Viên không rõ mà xin bày tỏ, hoặc minh triết, công kích, thì Chánh Phối Sư hay là Quản Lý thuộc về vấn đề ấy phải trả lời hay là bày tỏ cho khỏi sanh điều khó khăn cho việc bàn cải.
Văn kiện: HỘI THÁNH NỘI LUẬT
Lập tại Tòa Thánh, ngày 16 tháng 11 năm Giáp Tuất. (Le 22 Décembre 1934)
CHƯƠNG THỨ NHỨT: Đại Hội Hội Thánh
Điều Thứ Nhứt: - Chiếu theo Pháp Chánh Truyền và Đạo Nghị Định thứ 4, điều thứ 5 và thứ 6 của Đức Lý Giáo Tông và Phạm Hộ Pháp thì các phẩm vị Chức Sắc kể sau đây đặng vào Hội Thánh:
1. Thái Chánh Phối Sư: Nghị Trưởng.
2. Nữ Chánh Phối Sư: Phó Nghị Trưởng.
3. Phối Sư (nam nữ), Giáo Sư (nam nữ), Giáo Hữu (nam nữ): Nghị Viên.
4. Một Nghị Viên Nam và một Nghị Viên Nữ: Từ Hàn.
5. Hai Nghị Viên Nam và hai Nghị Viên Nữ: Phó Từ Hàn.
6. Thượng và Ngọc Chánh Phối Sư với Chánh, Phó Quản Lý Cửu Viện thay mặt cho Hội Thánh đặng minh triết các vấn đề chư Nghị Viên không rõ đem ra hạch hỏi, được quyền bàn cải và bỏ thăm.
7. Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Đài phải có mặt buổi Hội nhóm đặng lo bảo thủ Đạo Luật không cho Hội phạm đến.
Nếu một vấn đề nào sau khi bàn cải rồi mà Cửu Trùng Đài bỏ thăm thuận, còn Hiệp Thiên Đài thì bỏ thăm nghịch, hoặc là Cửu Trùng Đài bỏ thăm nghịch, mà Hiệp Thiên Đài bỏ thăm thuận, thì vấn đề ấy phải bàn tính và bỏ thăm lại.
Văn kiện: CHÁNH TRỊ ĐẠO
Soạn giả Khai Pháp Trần Duy Nghĩa Tái bản năm Giáp Dần 1974
Thượng Hội là Hội tối cao trong ba Hội lập quyền Vạn Linh, cho nên Hội Viên là chư vị Đại Thiên Phong cầm quyền Đạo trong nhị Hữu Hình Đài.
Hội nầy gồm có:
1. Giáo Tông Nghị Trưởng.
2. Hộ Pháp Phó Nghị Trưởng.
3. Thượng Phẩm Nghị Viên
4. Thượng Sanh Nghị Viên
5. 3 vị Chưởng Pháp Nghị Viên
6. 3 vị Đầu Sư Nam phái Nghị Viên
7. Đầu Sư Nữ phái Nghị Viên
8. Một vị Giáo Sư hay Phối Sư Từ Hàn. (Không có quyền bàn cãi và bỏ thăm )
Trừ ra mấy vị trên đây, không có một ai có quyền dự thính Thượng Hội.
... ... ... ... ...
Phận sự của Từ Hàn là lo giữ gìn giấy tờ, sổ sách của Thượng Hội. Mỗi kỳ nhóm Từ Hàn phải tùng Giáo Tông mà lập chương trình và viết thư mời chư Hội viên. Khi nhóm họp, Từ Hàn chỉ có quyền dự thính, biên chép các lời bàn cãi đặng lập vi bằng mà thôi, ngoài ra có quyền nói là khi cần nhắc khoản gì trong chương trình có ghi trước mà chư Nghị Viên bỏ quên không thảo luận tới.
Ngày giờ làm việc của Thượng Hội
Mỗi năm sau ngày Lễ Noel thì Thượng Hội nhóm lệ thường niên trong hạn kỳ là 15 ngày.
Ngoài phiên nhóm lệ nầy, Thượng Hội còn nhóm 3 tháng một lần.
Còn khi có việc gấp rút, Nghị Trưởng (tức Giáo Tông) gởi tờ mời nhóm liền, hay là viết thơ hỏi ý kiến chư Nghị Viên cũng được.
... .... ...
Nhận Xét:
- Trong thời kỳ Đức Quyền Giáo Tông cầm quyền, nền Đạo trong giai đoạn sơ khai văn kiện hành chánh chưa được thống nhất: nên danh xưng: Hội Trưởng, Chủ Trưởng, Hội Viên, Nghị viên được dùng không đồng nhất.
- Trong thời kỳ Đức Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài (12-1934) văn kiện hành chánh từ từ đi vào nề nếp nên danh xưng: Nghị Trưởng, Nghị Viên, Phái Viên được dùng cho Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh, Thượng Hội.
Vì tài liệu tham khảo bị giới hạn. Kính xin Quí Chức Sắc Hiệp Thiên Đài (Tòa Thánh Tây Ninh) đóng góp ý kiến và tài liệu bổ túc thêm.
Chúng tôi mong đón nhận những ý kiến đóng góp hay văn kiện bổ sung làm cho vấn đề được sáng tỏ hơn.

►Xem tiếp: Nội Luật Tòa Thánh