BẢN TIN SỐ 11 - THÁNG 7,  8 & 9 BÍNH TUẤT

Chuyện thế sự

Mật Mã Da Vinci


Cộng đồng người Ki Tô hữu đã và đang trải qua một xì căng đan về đức tin. Nguyên nhân là do việc xuất bản một quyển tiểu thuyết có tựa đề là The Da Vinci Code, tạm dịch là Mật mã Da Vinci, của nhà văn người Anh tên Dan Brown. Kỳ thực, quyển tiểu thuyết hình sự này đã được ấn hành từ tháng Ba năm 2003 nhưng sở dĩ dư âm của nó vẫn còn vang vọng cho đến hôm nay là vì mới đây một cuốn phim dựa trên nội dung của quyển Mật mã Da Vinci đã được hãng phim Sony Picture Entertainment đồng loạt công chiếu tại khắp các rạp trên toàn thế giới.

Nếu xét về mặt tài chánh thì quyển sách này là một thành công, bán chạy nhất trên toàn thế giới. Chỉ trong vòng 3 năm mà đã có tới 40 triệu cuốn Mật Mã Da Vinci bìa cứng được bán ra tại 150 quốc gia, trong đó có 1.5 triệu cuốn tại Úc. Đồng thời, nó cũng đã được dịch sang 44 thứ tiếng. Theo danh sách thu nhập trong năm 2005 của những người nổi tiếng trên thế giới, được đăng tải trên tờ tạp chí tài chánh Forbes, Mật mã Da Vinci đã mang lại cho ông Dan Brown 77 triệu Mỹ kim.

Tại sao một cuốn tiểu thuyết hình sự như Mật mã Da Vinci lại lôi cuốn được sự quan tâm đông đảo đến như vậy? Đó là vì, tuy nó được viết dưới dạng tiểu thuyết nhưng có nhiều sự kiện "động trời" liên quan đến những điều cốt lõi trong giáo lý Công giáo được lồng vào trong nội dung và những sự kiện này có thể làm lung lay đức tin của người Ki Tô hữu.

Xuyên suốt quyển tiểu thuyết các sự kiện sau đây đã được tiết lộ, dẫn chứng và khẳng định:

- Đức Chúa Giê Su Ki Tô chỉ là một người phàm phu, là một người Do Thái giảng đạo bình thường, không hề được các môn đồ xem là con Thiên Chúa mãi cho tới mấy thế kỷ sau khi ông chết và tới lúc Đại Đế La Mã Constantine tòng phục Công giáo, ông mới được ông Constantine biến thành một con Thiên Chúa để phục vụ cho mưu đồ chính trị cá nhân.

- Đức Chúa Giê Su không hề sống lại sau khi bị hành hình.- Đức Chúa Giê Su đã từng có vợ, đó chính là bà Maria Magdala (hay Mary Madalena), và có một người con gái.

- Bào thai của bà Magdala, tức dòng máu của Đức Chúa Giê Su, đã được mật mã hóa trong bức tranh Tiệc Ly của danh họa người Ý Leonardo Da Vinci.

- Người con gái của Đức Chúa Giê Su, tên Sarah, đứng đầu một dòng tu nổi tiếng và dòng tu này hiện vẫn còn lưu truyền ở Âu châu

- Kinh Thánh là do chính Đại Đế Constantine "xào nấu" ra tại Đại hội Công giáo Nicean vào thế kỷ thứ ba, cụ thể hơn là vào năm 325. Tại Đaị hội này sự kiện bà Mary là vợ của "con Thiên Chúa" bắt đầu được ém nhẹm.

- Bốn quyển Phúc Âm, được Giáo hội Công giáo chính thức công nhận là: Mathêu, Marco, Luca và Gioan đã bị vo tròn, bóp méo cho mục đích tuyên truyền. Theo các Phúc Âm nguyên thủy thì bà Mary là vị Tông Đồ đầu tiên và chính bà chứ không phải ông Phêrô được lệnh thành lập giáo hội. Sau khi Đức Chúa Giê Su bị hành hình thì đã xảy ra cuộc tranh chấp quyền thành lập và lãnh đạo giáo hội giữa bà Mary và ông Phêrô. Kết quả là bà Mary phải qua Pháp tỵ nạn.

- Hài cốt của bà Mary cũng như là những tài liệu bí mật liên quan đến mối quan hệ giữa bà và Đức Chúa Giê Su đã được khám phá tại Temple Mount khi Jerusalem bị xâm chiếm trong cuộc Thập Tự Chinh đầu tiên.

- "Sự thật" về bí mật của Đức Chúa Giê Su và bà Mary vẫn còn được lưu giữ cho tới ngày nay bởi một tổ chức bí mật có tên gọi là Priory of Sion, và danh họa người Ý Da Vinci từng là một trong các thủ lãnh của tổ chức này.

- Giáo Hội Công Giáo có biết về công cuộc bảo tồn bí mật nói trên và cố gắng ngăn cản, thậm chí dù phải giết người, trong nhiều thế kỷ qua.

- Ngoài ra, Giáo Hội Công Giáo thường ám sát các hậu duệ của Đức Chúa Giê Su nhằm không cho dòng dõi ngài phát triển.

- v.v...

Nếu quyển Mật mã Da Vinci chỉ là một sản phẩm hư cấu thì chẳng mấy ai quan tâm. Đàng này, tác giả Dan Brown cứ nhấn mạnh nhiều lần rằng những điều ông viết trong Mật mã Da Vinci toàn là những "sự kiện lịch sử", nghĩa là dựa trên những tài liệu có thật. Ông Dan Brown đã xử dụng những địa danh thật, những con người thật và những tổ chức thật để dẫn chứng cho các luận điệu của mình, do đó quyển sách có sức thuyết phục độc giả mà một khi tin tưởng vào các luận điệu của quyển sách thì sự nguy hại bắt đầu phát tác. Thật vậy, những độc giả nào nhẹ dạ, cả tin và không có thời giờ tìm hiểu thiệt hư sẽ đâm ra sốc. Vì nếu những tài liệu, dữ kiện do ông Dan Brown trưng dẫn trong cuốn truyện là trung thực và chuẩn xác thì các giáo dân Công giáo đã bị lừa gạt trong suốt hai ngàn năm qua. Một sự thật quá phủ phàng và khó có thể chấp nhận được. Chính Thánh Phaolô Tông Đồ đã có lần nhận định về sự phục sinh của Đức Chúa Giê Su rằng: "Nếu Đức Chúa Giê Su không sống lại, thì những điều tôi giảng cho anh chị em đều vô nghĩa và đức tin của anh chị em cũng chả có nghĩa lý gì! Bởi vì việc Chúa Phục Sinh là nền tảng để hoàn tất công cuộc cứu chuộc tội lỗi của nhân loại. "!

Theo suy nghĩ hết sức chủ quan của tôi thì chuyện được gọi là xì căng đan thuộc loại trên chẳng phải là chuyện mới lạ trong quá trình khai sáng, bảo tồn và phát triển của các tôn giáo lớn trên thế giới. Cái "pháp nạn" mà đạo Công giáo đang trải qua ngày hôm nay thì Phật giáo đã phải chịu đựng trong quá khứ. Duy có điều là thế giới ngày nay không còn là thế giới "càn vô đắc khán, khôn vô đắc duyệt" nên mỗi khi xảy ra một "xì căng đan" thì những người có trách nhiệm giáo dân khó lòng hạn chế sự phổ biến và tầm mức ảnh hưởng của nó trong nội bộ. Chúng ta có thể tin được hay không khi cách đây hàng trăm năm đã có những công trình nghiên cứu tiết lộ rằng Đức Phật chẳng hề tạo ra kinh, luật và luận gì cả. Những gì mà đạo Phật có được cho tới ngày hôm nay hoàn toàn vay mượn từ đạo Lão bởi vì Đức Phật Thích Ca trước đây chỉ là một môn đồ của Đức Lão Tử và thậm chí của Đức Khổng Tử. Rồi những lời nói sau cùng của Đức Phật với Ngài A Nan trước khi nhập Niết Bàn cũng là do nhiều người đời sau bịa đặt và thêm thắt. Luận điệu xuyên tạc và bóp méo sự thật, mới nghe đã khiến chúng ta cảm thấy vô cùng phi lý và xúc phạm, ấy vậy mà đã được công bố cách đây gần hai thế kỷ. Nếu tôi không lầm, thì trong bài nghị luận Essai sur la Légende du Bouddha đăng trên tờ Journal Asiatique, nhà nghiên cứu người Pháp Senart khẳng định rằng những chuyện liên quan đến cuộc đời Đức Phật đều thất thiệt và hoàn toàn là một sản phẩm huyền thoại được dựa trên tâm thức tôn giáo Ấn Độ. Phật giáo chẳng là gì khác hơn một chi phái của Bà La Môn giáo. Các thuyết Tứ Diệu đế, Duyên khởi, Ngũ uẩn, Vô thường, Vô ngã; Nhân quả và Luân hồi v.v... đều vay mượn cả. Vẫn theo ông Senart, Phật giáo lúc ban đầu là một tôn giáo chỉ đặt nặng vấn đề hạnh phúc ngay trong thế gian này cũng như việc tái sinh vào cõi trời hơn là chuyện nhập Niết Bàn và những suy diễn trừu tượng về Duyên khởi và Nhân quả. Rồi nữa, trong một quyển sách tiếng Đức nhan đề Der Buđhismus und seine Geschichte in Indien, một học giả khác là Hermann Jacobi thì cho rằng khái niệm Thập Nhị Nhân Duyên chính là tượng trưng cho 12 tháng. Lục sư ngoại đạo thời Đức Phật sinh tiền là sáu hành tinh. Mặt trời là Đức Phật. Sự mâu thuẫn giữa Đức Phật và Đề Bà Đạt Đa là mối mâu thuẫn giữa mặt trời và mặt trăng. Nói chung ông Kern khẳng định Đức Phật được xây dựng và phát triển trên huyền thoại mặt trời trong truyền thuyết Ấn Độ.

Còn về vấn đề có những người cho rằng Đức Phật là đệ tử của Đức Lão Tử thì đã xảy ra cách đây hàng ngàn năm, cụ thể hơn là vào khoảng thế kỷ thứ năm Tây lịch và tác nhân là quyển Tây Thăng Kinh và quyển Hóa Hồ Kinh. Một đoạn trong chương đầu của quyển Tây Thăng Kinh thuật lại việc Đức Lão Tử đi sang Ấn Độ truyền Đạo như vầy: "Lão Tử bay về hướng tây để mở đạo tại Trúc Càn. Ngài được gọi là Cổ tiên sinh, rất giỏi nhập vào vô vi nên Ngài trở nên không có mở đầu, không có kết cuộc, tồn tại mãi mãi. Vì thế, Ngài bay (về hướng tây) đem đạo đến ải Hàm Cốc. Quan Lệnh ở đó là Doãn Hỉ trông thấy lằn khí (đỏ tía) của Ngài, bèn trai giới đón tiếp. (Lão Tử) vì Quan Lệnh mà thuyết hai chương Đạo Đức kinh]". Ấn Độ ngày xưa cũng gọi là Thiên Trúc, Tây Trúc, hay Tây Vực nhưng trong Tây Thăng Kinh thì gọi là Trúc Càn. Ngoài ra, ngày xưa người Trung Hoa gọi người Ấn Độ là rợ Hồ. Còn chữ kiến khí trong câu vừa dẫn thì ứng với câu rất nổi tiếng "tử khí đông lai". "Tử khí đông lai" là làn khí đỏ tía từ hướng đông bay tới. Như vậy, rõ ràng tây thăng là bay về hướng tây, tức là sang Ấn Độ. Một quyển sách khác được biên soạn vào thời điểm xê xích trước sau một chút với quyển Tây Thăng Kinh là quyển Tây Nhung Truyện đã cung cấp thêm thông tin về sự kiện Hóa Hồ này: "Những gì ghi trong kinh Phật là giống y chang với nội dung Lão Tử Đạo Đức Kinh của Trung Quốc. Người ta cho rằng Lão Tử đi về hướng tây, ra khỏi ải quan, vượt qua nước Thiên Trúc ở Tây Vực, giáo hóa rợ Hồ". Quyển Tây Nhung Truyện còn khẳng định rằng Lão Tử đã dạy người Ấn Độ tu thành Phật: "Hóa Hồ vi Phù Đồ, thuộc đệ tử biệt hiệu, hợp hữu nhị thập cửu". [Nghĩa là: ... Giáo hóa rợ Hồ thành Phật, đó là biệt hiệu dành cho cả thảy 29 đệ tử]. Như vậy, theo ý nghĩa của câu này thì Đức Phật Thích Ca và 28 vị Tổ Sư người Ấn Độ là 29 đệ tử của Đức Lão Tử.

Còn thuyết Đức Phật được sinh ra từ hông và khi mới sinh ra đi bảy bước trên bảy đóa sen, chỉ một ngón tay lên trời và một ngón tay xuống đất rồi nói câu "Thiên Thượng, Thiên Hạ, Duy Ngã Độc Tôn" , thì nhiều người cho rằng được dựa trên mô hình của tổ sư đạo Kỳ Na (Jaina Mahâvira) và thánh nhân đạo Bà La Môn.

Về nguyên nhân xuất gia thì chúng ta lâu nay vẫn đinh ninh rằng Đức Phật cảm thấy được nỗi thống khổ của sinh, lão, bệnh, tử trên trần thế, nên mong tìm sự giải thoát về tinh thần. Nhưng lại có người lập luận rằng sự xuất gia của Đức Phật có liên quan tới hoàn cảnh mà đất nước của ngài đang gặp phải. Vào thời điểm đó, dòng tộc Thích Ca đang chịu sự uy hiếp của nước Câu Tát La, chỉ sớm chiều có khả năng bị hủy diệt, Đức Phật vì ý thức được hiểm họa này nên đã bỏ đi lánh nạn. Luận điệu này được chứng minh qua sự kiện sau khi Thái Tử Tất Đạt Đa đi tu thành Phật thì toàn bộ hoàng thân, quốc thích của ngài bị thảm sát.

v.v... và v.v...

Hầu hết chúng ta đều biết rằng cuộc đời và lịch sử của các vị giáo chủ như Đức Lão Tử, Đức Khổng Tử, Đức Phật Thích Ca, Đức Chúa Giê Su, Đức Mô Ha Mét v.v... từng là những đề tài mà giới học giả Đông lẫn Tây phương không ngớt nghiên cứu và tranh luận trong hàng ngàn năm qua. Tuy nhiên, điều đáng nói là trong những hột thóc do công khó cày ảy mà có được thì vẫn có không ít hạt sạn. Có những kết quả nghiên cứu thoạt tiên được xem là mới lạ, khách quan nhưng sau đó mới vỡ lẽ ra là được dựa trên những dữ liệu bị bóp méo, sai lệch hoặc phiến diện, chứ không phải là một tiết lộ hay khám phá gì mới cả. Rồi động cơ nghiên cứu cũng chẳng phải là do sự thành ý, chánh tâm mà chẳng qua là bị thôi thúc bởi quan niệm hẹp hòi, sự kiêu mạn và tư lợi. Rồi chi li hơn một chút là những cuộc xung đột giữa tín đồ tôn giáo này với tín đồ tôn giáo khác, thậm chí giữa chi phái này và chi phái khác hay giữa pháp môn tu này với pháp môn tu khác. Ai cũng giành phần chánh, phần cao, phần đúng về mình. Và hậu quả nếu nhỏ là các vụ "trích điểm" trong trường ngôn luận, cùng là sự phân hóa tất yếu. Lớn hơn thì là các cuộc tàn sát đẫm máu.

Tôi nhận thấy có một điều rất mỉa mai ở đây là mỗi khi nhắc đến Hồi giáo thì chúng ta thường có thành kiến là tín đồ của Đạo này cực đoan nhưng nhìn lại chúng ta thấy các phần tử đó gần như hiện diện trong các tôn giáo lớn khác. Rồi nữa, các tôn giáo khác có khuynh hướng nhìn Hồi giáo như một "Bàng Môn, Tả Đạo" nhưng xét kỹ lại không ít phần tử bàng Môn, tả Đạo đã len lỏi vào được các tôn giáo tự cho mình là chánh giáo này. Theo tôi, sở dĩ có tệ trạng này là do chúng ta thường mơ hồ hoặc ngộ nhận giữa đức tin và biên tín, giữa cứu cánh và phương tiện, giữa tuyệt đối và tương đối, và giữa bản thể và hiện tượng.

Khi đối diện với một điều gì đó mới lạ thì chúng ta thường phân ra thành hai nhóm, đó là tán đồng và bài bác (pros and cons), và để hỗ trợ cho lập trường của mình thì người ta thường trưng dẫn các dữ liệu. Dữ liệu nào có sức thuyết phục nhất thì sẽ thắng được cuộc tranh luận. Tuy nhiên, vấn đề đáng lưu ý ở đây là sức thuyết phục hay mức khả tín đó chưa hẳn là đồng nghĩa với sự trung thực hay chuẩn xác. Hay nói cách khác là sự khả tín và sức thuyết phục đó nếu đạt được thì chỉ tồn tại trong một giai đoạn nhất định và điều này thường xảy ra trên lãnh vực nghiên cứu về các nền văn minh hay văn hóa mà tôn giáo nếu nói về mặt hữu hình thì lại thường là sự thăng hoa của một nền văn hóa hay văn minh nào đó. Sự thật mà chúng ta có và biết được ngày hôm nay chỉ mang tính chất tương đối thôi. Thật vậy, nếu không có những khám phá khảo cổ mới tại An Dương, Đôn Hoàng, Mã Vương Đôi v.v... thì cho tới bây giờ nhiều người vẫn còn lầm lẫn về nền văn minh hoặc văn hóa Trung quốc; cũng như là sự hiểu biết lệch lạc về Lão giáo, Khổng giáo v.v.... Điều này hoàn toàn có thể xảy ra với các nền văn minh khác như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Ấn Độ v.v..., tức là những cái nôi của Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo. Thế mà cho tới bây giờ không ít người vẫn loay hoay biện minh cho biên tín, cho phương tiện, cho sự tương đối, và cho hiện tượng hoặc là bị chúng làm giao động. Nhưng chúng ta làm như thế để vì mục đích gì khi mà chúng ta biết rõ là sự hiểu biết của chúng ta thì vô cùng hạn hẹp mà trong "lòng đất" thì còn ẩn chứa nhiều "sự thật", nhiều "chân lý".

Vì biên tín nên chúng ta cho rằng Đạo giáo của mình là cao siêu hơn Đạo giáo khác và mỗi khi ai đụng chạm tới Đạo giáo mình thì giãy nãy lên như đĩa chạm phải vôi rồi có những ngôn từ và hành động quá khích hoặc là đâm ra hoang mang, nao núng trong đức tin. Đó là do ở sự hiểu biết và quan niệm sai lạc về việc tu học của chúng ta. Xưa nay chúng ta vẫn thường nghe câu châm ngôn là: "Đi đường nào rồi [cuối cùng] cũng về La Mã". Nếu tuyệt đại đa số chúng ta, loài người, đều hiểu câu nói này có ý nghĩa là có rất nhiều con đường để đi đến La Mã, dù anh đi con đường nào đi nữa thì sớm hay muộn, xuông xẻ hay chông gai miễn là "hành tàng" của anh quang minh, chánh đại, hợp pháp, hợp luật lệ, cuối cùng anh cũng sẽ đến được La Mã thì thế giới này xưa nay có lẽ đã không xảy ra nhiều cuộc tương sát, tương diệt giữa con người với nhau. "La Mã" ở đây chúng ta có thể tạm hiểu là Thiên Đàng đó, là cõi Niết Bàn đó, là Chân Thiện Mỹ đó, là cõi Bồng Lai đó, là cõi Thiêng Liêng hằng sống đó, là v.v... và v.v... đó. Cái đích đến của các Đạo giáo trên thế gian này, chỉ khác nhau ở tên gọi mà thôi! Còn các con đường thì chung quy cũng chỉ là phương tiện. Vì suy nghĩ và hành động qua lăng kính tự cao, tự phỉnh gạt nên chúng ta vẫn cứ suốt đời lao khổ biện giải cho phương tiện của mình để cuối cùng chẳng còn tâm sức để đạt đến cái cứu cánh.

Quan niệm và hành động của chúng ta đối với câu "Thiên Thượng, Thiên Hạ, Duy Ngã Độc Tôn" cũng dẫn tới hệ quả tích cực và tiêu cực tương tự.

Trên bước đường học và hành Đạo, việc có đức tin là một điều vô cùng thiết yếu vì nó giúp chúng ta có được sức mạnh vượt qua nhiều khó khăn, thử thách. Người Pháp họ có câu phương ngôn là "La foi transporte les montagnes", nghĩa là: Đức tin chở đặng núi non, tôi thiết nghĩ cũng không phải quá phóng đại. Thật là vô cùng may mắn cho những ai có được cơ duyên đích thân chứng nghiệm những điều huyền bí, linh thiêng vì một khi đã trải qua được những điều siêu nhiên đó, đức tin dù không dời cũng sẽ đến. Kỳ dư, đại đa số chúng ta đều phải tự nỗ lực tìm tòi, gạn lọc và un đúc đức tin để trước là thực hiện được phần Nhân Đạo và sau đó là tạo nền tảng cho sự phát triển tâm linh tức là sự phát triển trong Thiên Đạo. Nhưng đức tin dứt khoát là không thể nào có được bằng cách đề cao Đạo giáo của mình và chà đạp Đạo giáo của người. Đức tin không thể nào có được bằng cách mua chuộc, hù dọa, cưỡng ép, vu khống, xuyên tạc, mạ lỵ... Thứ đức tin thủ đắc được bằng những trò hết sức "Đời" đó trái nghịch với mọi lẽ Đạo thì làm sao mà tồn tại được. Thứ đức tin đó chẳng khác chi chiếc lá mùa thu chỉ chực chờ một cơn gió thoảng là đủ để cuốn đi, hồ huống gì là một cơn cuồng phong hay bão táp?

Trên lộ trình tu học, theo tôi thiển nghĩ điều quan trọng nhất là tinh thần hiểu biểt, khoan dung và cảm thông. Thật vậy, chúng ta không nên chỉ kính trọng Đạo giáo của riêng mình và bài bác những tôn giáo của người khác, mà phải kính trọng tôn giáo của người khác vì lý do này hay vì lý do khác nữa. Nếu không, tức là chúng ta đã tự đào huyệt chôn chính Đạo giáo của mình, và còn làm hại các Đạo giáo khác. Người nào chỉ biết tín ngưỡng của mình và bài xích những tín ngưỡng khác là họ đã mắc chứng bệnh "tôn bái bổn thần" quá nặng. Họ làm thế và nghĩ rằng: "Tôi sẽ làm rạng danh tôn giáo của tôi". Nhưng trái lại, khi làm như vậy họ đã gây tổn thương đạo giáo của mình một cách trầm trọng. Vì vậy, sự hòa hợp là tốt đẹp, mọi người cần lắng nghe, và có thiện chí lắng nghe những triết thuyết mà người khác đề xướng.

Mục đích của các Đạo giáo rốt ráo thì cũng chỉ muốn truyền giảng chân lý mà việc này thì đâu phải thuộc độc quyền của Lão giáo, Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Do Thái giáo, Ky Tô giáo, Hồi giáo, Cao Đài giáo... Nếu không nhận thức rõ ràng thì những danh xưng vừa nêu chỉ là một trở ngại cho sự hiểu biết chân lý cách tự tại, và có thể làm phát sinh những thành kiến tai hại trong tư tưởng con người.

Ô hô! Thử hỏi trên thế gian này chỉ có một vầng trăng mà người địa phương nào cũng quyết sống, quyết chết để giành quyền vi chủ thì điều ấy chẳng phải là buồn cười lắm ru? Làm như vậy thì chẳng khác mấy với chuyện mấy ông thầy bói mù xem voi. Mỗi người đều có một "chân lý" khác nhau mà chung quy thì chỉ là "vạn thù quy nhất bổn". Ai tai!!! ◙

Trần nguyên Đức
Sydney15/07/2006

 

►Xem tiếp: >>>>

Chủ trương của Bản Tin Hòa Hiệp

Bản Tin Hòa Hiệp: Phổ biến tin tức Đạo sự gần xa; liên lạc, trao đổi kinh nghiệm hiểu biết; học hỏi, hợp tác thân hữu với các Tôn Giáo bạn, các Đoàn Thể xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu hướng thượng, nhằm phục vụ không biên giới cho Đạo lẫn Đời.

Bản Tin Hòa Hiệp: Xin đón nhận mọi ý kiến đóng góp xây dựng, bài vở với bất kỳ thể loại; ưu tiên trong lãnh vực biên khảo, nghiên cứu đạo giáo, triết học, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật phục vụ nhân sinh của chư vị thức giả đạo hữu, đạo tâm... miễn nội dung không nhằm mục đích: làm diễn đàn chính trị, bài kích cá nhân, tập thể; kỳ thị dưới mọi hình thức; gây chia rẽ nội bộ; đi ngược lại tôn chỉ, mục đích và đường lối của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh.

CHỦ TRƯƠNG: Tộc Đạo Sydney
CHỦ BÚT: Quyền Đầu Tộc Đạo Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp
BAN BIÊN TẬP:
Bạch Sỹ, Thanh Nguyên, Hồng Ngọc, Ái Nhân,
Tiểu Hương, Lê Phong, Song Kha, Trần Nguyên Đức.

 

CAODAI TEMPLE OF NEW SOUTH WALES
HOA HIEP - QUATERLY VIETNAMESE NEWSLETTER
114-118 King Georges Road  WILEY PARK NSW 2195 - AUSTRALIA
Phone & Fax: + 61 2 9740 5678

Email: thanhthatnsw@yahoo.com.au ; thanhnghiep@optusnet.com.au ; hongngoccaodai@yahoo.com