BTHH: Nhận thấy rằng nhu cầu tìm hiểu về Giới Luật của nền Đại Đạo, cũng là phương hay để giúp chúng ta cùng giử Đạo.
Chúng tôi xin trích đoạn nơi tài liệu “CHÁNH TRỊ ĐẠO” do Thời Quân Khai Pháp Trần Duy Nghĩa biên soạn (Ấn bản năm Giáp Dần 1974) gởi đến chư đồng Đạo cùng tham đọc:
TRÁCH VỤ VÀ QUYỀN HẠN
CỦA HỘI NHƠN SANH
Quyền Vạn Linh có ba Hội làm cơ quan như trên đã nói: Quyền Vạn Linh đối với Quyền Chí Linh, cũng như câu "Ý dân là ý Trời", cho nên Nhơn sanh có quyền hạn rất rộng rãi trong nền Chơn Giáo của Đức CHÍ TÔN. Có như vậy ta mới thấy được mặt cân công bình Thiêng liêng tại thế.
I. Trách vụ Lập Pháp
Hiến Pháp của Đạo tức là Pháp Chánh Truyền do CHÍ TÔN truyền xuống, bằng huyền diệu cơ bút, là một bộ Hiến Pháp bất di, bất dịch, bất khả xâm phạm (cang tánh Hiến Pháp).
Vậy thì quyền Lập Pháp nay, là lập các luật lệ thường thức đặng thi hành Pháp Chánh Truyền, khép mình vào khuôn viên Đạo, để có thể đi trọn vẹn con đường phổ độ của Đức CHÍ TÔN một cách sáng suốt, minh mẫn và trong sạch.
Tất cả ý nguyện của Nhơn sanh đề nghị, qua sự xem xét của Hội Thánh và Thượng Hội, được dâng lên xin quyền CHÍ TÔN phê chuẩn, tức nhiên thành Luật Lệ, ban hành trong toàn Đạo.
Một đề nghị nào do ý nguyện của Nhơn sanh đưa ra ba Hội thay nhau thảo luận và chấp thuận, thì đã thành ra ý nguyện chung của ba Hội, mà ba Hội là Cơ quan của quyền Vạn Linh, tức nhiên ý nguyện đó thành ra ý nguyện của Vạn Linh rồi, cho nên Luật Lệ lập thành do ý nguyện của Vạn Linh là tượng trưng ý chí chung của toàn vạn loại, để ấn định quyền hạn của toàn Đạo và tổ chức quyền chánh trị chung toàn Đạo.
Nhơn sanh được tự do đề nghị và thảo luận thế nào cho đúng hợp với trình độ tiến hóa của Nhơn loại và thích nghi với khắp các địa phương.
Trách vụ lập pháp của Nhơn Sanh có thể chia ra:
a. Quyền sáng kiến:
Lập pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, CHÍ TÔN cho Nhơn sanh được tự lập để khép mình vào cái khuôn khổ do mình tạo ra, vì cớ Nhơn sanh được đưa đề nghị lập những Đạo Luật mới, tùy theo sự tấn triển của nhơn trí. Các dự án Luật đó phải gởi trước một bổn đến vị Nghị Trưởng Hội Nhơn Sanh đặng vị nầy đem vào chương trình nghị sự giữa Đại Hội Nhơn Sanh (Droit d'initiative).
b. Quyền phủ quyết:
Thảng có điều luật nào không còn thích hợp với phong hóa, có thể cản trở bước đường đạo đức của toàn Đạo, Nhơn sanh được quyền xin hủy bỏ (Droit de véto).
c. Quyền phúc quyết:
Chia làm hai loại:
1. Phúc quyết thăm dò: Hội Thánh có thể đưa ra một dự án luật cho Nhơn sanh bàn cãi trước khi lập thành điều luật thiệt thọ.
2. Phúc quyết thừa nhận: Cũng có nhiều điều luật do Hội Thánh ban hành trong vòng một năm từ ngày Đại Hội năm trước, tới kỳ nầy đem ra cho Nhơn sanh xem xét coi điều luật đó trong khi thi hành đã làm lợi cho Nhơn sanh hay là làm hại. Thảng đã làm lợi và còn thích hợp thì Nhơn sanh thừa nhận, để còn đủ hiệu lực. Bằng không, xin hủy bỏ. Trường hợp nầy, quyền phúc quyết thành ra quyền phủ quyết.
II. Trách vụ kiểm soát chánh trị
Trách vụ kiểm soát nền chánh trị của Hội Nhơn Sanh có nhiều khoản:
1. Quyền tuyển cử:
Trong cửa Đạo, mỗi Chức sắc của Đạo đều tuyển cử bắt đầu từ Tín đồ trở lên. Cân công bình của CHÍ TÔN muốn cho con cái của Ngài tạo công nghiệp xứng đáng, tu tâm đức vững chắc, đặng lập vị Thiêng liêng phải đi có trật tự từ hàng Tín đồ vào hàng Chức việc Bàn Trị Sự trong Hương Đạo, lần lần đủ công nghiệp y như Luật định, được đem ra quyền Vạn Linh xem xét công nhận. Nếu không có Nhơn sanh công nhận thì trừ phi do khoa mục, hay do quyền CHÍ TÔN ân tứ, chiếu theo công nghiệp phi thường thì không còn con đường nào khác đặng bước lên Thiêng Liêng vị. Mà tại thế nầy, đẳng cấp trong Cửu Phẩm Thần Tiên được nhìn nhận cân đối ngang nhau với Thiêng Liêng vị ngày qui liễu về cùng Đức CHÍ TÔN.
Vừa nói Nhơn sanh tuyển chọn Chức sắc của Đạo trong hàng Tín đồ. Bắt đầu cho chọn vào phẩm vị Chức việc Bàn Trị Sự rồi mỗi khi thăng cấp, phải có sự công nhận của quyền Vạn Linh, hay nói trước hết của Hội Nhơn Sanh.
… … … … … … … …
2. Quyền bầu cử và ứng cử Nghị viên:
Quyền của Nhơn sanh được rộng rãi vô cùng, song không thể tất cả mọi người đều ra giữa nghị hội được, thành thử phải chọn người Đại Biểu theo tỷ lệ.
Những người Đại Biểu nầy được bầu cử trực tiếp (như Phái viên) hay gián tiếp (như Nghị viên).
Đến quyền ứng cử, mọi người đều có quyền cũng như bầu cử. Vả lại, cũng là nhiệm vụ tối trọng của cả Tín đồ, phải tham gia việc chánh trong Đạo đặng dự phần "cải cựu hoán tân" cho kịp theo trào lưu tiến hóa nhân loại.
3. Quyền ủy nhiệm quyền hành:
Thường những quyền nào trong nền Chánh Trị Đạo đã khuyết mà không người thay thế, vì nó có tánh cách quan hệ, cơ quan Chánh trị trao cho Hội Nhơn Sanh để Hội nầy giao lại cho người nào và trọn ủy nhiệm cho người đó hành sự.
Ví dụ như: Quyền thống nhứt Chánh Trị Đạo thuộc về Đầu Sư mà trong Đạo khuyết phẩm Đầu Sư nên Hội Nhơn Sanh năm Mậu Dần (1938) ủy nhiệm quyền thống nhứt cho Đức Hộ Pháp cầm cho tới ngày nào có Đầu Sư chánh vị.
4. Xem xét công việc đã thi hành và kết quả của nó:
Mỗi năm, kỳ Đại Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh trình bày công việc của mình sắp sửa làm, đang làm hoặc đã làm, và trình bày kết quả của nó giữa Hội và sẽ được Hội Nhơn Sanh thừa nhận hay là không.
III. Trách vụ kiểm soát tài chánh
Y như trong khoản phận sự của Hội Nhơn Sanh đã nói sơ lược và chiếu theo Nội Luật Hội Ngánh thường xuyên Hội Nhơn Sanh, thì Hội Nhơn Sanh còn có trách vụ quan sát tài sản, sổ thâu xuất và đề nghị số phỏng định cho năm tới.
Trước ngày Đại Hội Nhơn Sanh, các cơ quan trong nền Chánh Trị Đạo dự đoán sổ thâu xuất tài chánh trong năm tới của Cơ quan mình, rồi dâng lên Cửu Viện, nơi đây tổng số các khoản thâu xuất đem ra Hội Nhơn Sanh công nhận.
Quan hệ nhứt về vấn đề tài chánh nầy thuộc Phái Thái (có ba Viện: Hộ, Lương, Công) cho nên trong lúc Đại Hội Ban Ủy Viên Phái Thái phải chú ý đến điều nầy, đến tại ba Viện trên, nhứt là Hộ Viện xem xét sổ sách, rồi Phúc sự viên lập tờ trình đem ra giữa Đại Hội, đặng toàn Hội Nhơn Sanh thảo luận lại, hoặc công nhận, hoặc bác bỏ các khoản dự toán chi phí vô ích.◙