|
LTT: BTHH sẽ đăng liên tục truyện ngắn Lưới Trời, sáng tác khoảng năm 1940 hầu quí bạn đạo, đạo tâm thưởng lãm. Sau đây là lời phê của Đức Phạm Hộ Pháp:
"Ấy là một tiểu thuyết đầy đủ đạo đức tinh thần, đáng để cho những người đạo tâm lưu ý. Một gương sáng suốt của một người chồng, trong buổi khổ não tinh thần vì tình ái yêu vợ, mà tìm nơi an ủi tâm hồn phải chỗ của ông Lê Thành Lung.
Một bà vợ bị hàm oan! Trót chịu đau khổ đã trên mười năm mà vẫn giữ tình chung thủy, cho tới lúc minh oan với chồng. Thật! Là một người hiền phụ đáng kính, đáng thương là bà Lê Thành Lung.
Một đứa con đã xa cha mẹ quê hương lúc lên sáu tuổi, theo người ngoại quốc về Pháp, mà còn giữ y thiên tánh chẳng đổi chẳng dời, trên hiếu với cha mẹ và trọn nghĩa với bạn, dầu người bạn ấy là người thù của mình là Lê Thành Song.
Người rất nên chú ý hơn hết là đứa phản phúc sát nhơn, tội tình quá lẽ mà biết tự giác sửa tánh ăn năn, theo đường chánh tìm lẽ phải, tự hối mà ở trọn hiếu với cha mẹ người bị hại nơi mình, mà đền tội là Nguyễn Văn Thai.
Tuy là bản tiểu thuyết vắn t?t nhưng đủ đạo đức tiết nghĩa. Tưởng, ai xem đến cũng phải cảm động! Quả nhiên! Nó đã hiển hiện ra rõ ràng, một tuồng đời hiện hữu.
Bần đạo rất khen, cho phép in ra và ấn tống.
Hộ PHÁP
ký tên và đóng dấu"

Lưới Trời
II. BÀ HỘI ĐỒNG LUNG NHẬP MÔN THEO ĐẠO CAO ĐÀI.
Thật đúng như lời người ta thường ví, đời là một giấc mộng! Thấy đó rồi mất đó, giàu sang nghèo hèn, thay đổi có khi làm cho người trở tay không kịp. Danh mà làm gì? Lợi mà làm chi? Hai món lợi khí ấy, Đấng Tạo Hóa nhét vào óc của loài người, để thử thách! Ai ham lấy nó? Ham danh để tranh danh rồi phải khổ não khi mất danh, ham lợi để giành cho được lợi, tâm phải đau, trí phải khổ vì lợi, rồi rủi thất lợi tâm phải đau, trí phải khổ vì lợi. Chung qui chỉ có đổi hai chữ danh lợi, mà lấy hai chữ tội nhiều hơn phước. Trong lúc loài người đang say mê vì danh vì lợi, ngoài ra nào có thấy chi khác hơn, mất cã lý trí không kể tội lỗi, miễn sao cho được ý muốn, không một chướng ngại vật nào cản trở họ nỗi, không một nguy hiểm nào làm cho họ sợ. Pháp luật của đời, chơn lý của đạo, không thể làm cho họ kính hay nể, họ chỉ thực hiện cái muốn thì cho kỳ được! Vì thế Phật Giáo lên án chữ 'muốn' có diệt được cái muốn, thì loài người mới tránh được tội lỗi.
Đời sống hiện tại, vì vật chất của thời đại văn minh làm cho luân lý suy kém, đạo đức mất cã tinh thần thì danh lợi tình yêu là ba món lợi khí, mặc tình cho người đua nhau tranh cạnh, lấy nó làm hy vọng bao nhiêu, mất nó lại càng thất vọng bấy nhiêu. Tại sao loài người, cứ kế tiếp từ cổ chí kim tranh nhau có bấy nhiêu nơi con đường đời, không chịu để ý mà tẻ qua con đường đạo là con đường không chông gai, không đau khổ. Đó là một vấn đề hệ trọng mà loài người đang lo tìm hiểu nguyên nhân. Vì họ vẫn lấy làm lạ? Tại sao, họ ham đi con đường đầy nguy hiểm, đầy tội lỗi là con đường đời, mà lại chẳng chịu bước sang qua con đường đạo là con đường đầy hạnh phúc. Cái cảnh gia đình của bà Hội Đồng Lung trước cuộc tai biến, thì thật là đầy đủ cã ba, nào danh, nào lợi, nào vợ chồng yêu đương, gia đình đầm ấm. Nếu được vậy trọn đời thì còn phải nói chi cho dài dòng! Đời là sân khấu của xã hội, thường đổi lớp như đổi cảnh! Nay vầy mai khác không thể biết trước được.
Nếu tiên tri thì ai dám làm quấy, ai dám nhào lăn vào bả danh lợi, mà chịu lắm điều phiền não. Sau khi chồng con bà mất tích, trọn cả năm trời, bà bỏ phế việc nhà, chỉ có lo việc tìm kiếm con hơn hết. Trước kia bà vui sướng bao nhiêu với cảnh gia đình dẫy đầy hạnh phúc. Ngày nay bà phải chịu buồn khổ bấy nhiêu, với cảnh gia đình hiu quạnh dẫy đầy tai biến. Đứng trước sự thất vọng, đau đớn vì sự tìm kiếm cã năm không ra manh mối, đáng lẽ bà ngã lòng để lo việc nhà, việc làm ăn rất lớn kia. Không! trái lại bà rất hăng hái, lo phương nầy chạy hướng nọ, để kiếm cách dò la. Việc thương chồng con bao nhiêu, nó giúp cho bà, nong chí bấy nhiêu, chạy chẳng biết mõi, đi xa không biết mệt, nếu ai đứng vào địa vị của bà thì mới rõ thâm tâm của bà.
Tội nghiệp, sự bền chí sự kiên nhẫn của bà, chỉ bị thời gian làm cho bà phải chán nãn, với bao nhiêu sự tìm kiếm vẫn vô hiệu quả. Tuy bà Hội Đồng là phận đàn bà lại ít học, nhưng nhờ ảnh hưởng của ông chồng là người tân học, nên chi bà không tin dị đoan không ưa thầy phù cũng không tin thầy bói. Nhưng bao năm tìm kiếm không ra manh mối, bà mới đâm ra ngã dị đoan, bà nghe chùa nào linh miễu nào thính, đều đi đến để cúng vật và xin sâm, bà nghe thầy nào hay bói giỏi bà đều tìm đến để coi. Khổ thay chỉ phí công tốn của ròng rã hai năm nữa, mà rốt cuộc cũng như không. Hết phương thế, hết tâm trí với bảy năm trời bà đành gác bỏ. Để lo lắng việc nhà thêm lời an ủi của vợ chồng ông Cả Minh nên bà cũng nguôi ngoai nhiều lắm!
Ngày kia, nhằm ngày rằm tháng bảy, bà Hội Đồng đương lo cúng chè xôi, bà nghe chó sủa vang. Bà bước ra trước cửa thềm để coi ai cho biết, bà thấy có một đám người ở ngoài lộ đi vào. Đi đầu là người bận áo xanh, đi sau năm người bận áo trắng. Bà tự nói, mấy người Cao Đài đi cúng tưởng ai đâu lạ, đến chừng mấy người đi gần tới ngang cửa ngõ, thì bà Hội Đồng nhìn kỹ lại, là ông Lễ Sanh Thanh, Chị Ba Em, Cô Năm Tý với Chị Ba Đăng còn hai người kia đi sau bà không biết.
Bà chào và hỏi rằng: Mấy bà hôm nay đi lạc đâu trên nầy?
Mấy bà trả lời rằng: Chúng tôi đi hầu đàn vừa về gặp ông Lễ Sanh mời xuống dưới đây. Vì sẳn ngày rằm, có bốn năm chị em muốn nhập môn, nên chi chị em chúng tôi xuống chơi luôn thể.
Bà Hội Đồng nói: Trời còn sớm mời mấy chị vô chơi rồi chút nữa sẽ đi, vì nhà ông Lễ Sanh cũng gần đây mà!
Chị ba Đăng mới nói: Vậy, hiền huynh Lễ Sanh với hai em đi về trước, để ba chị em tôi ghé thăm bà Hội Đồng, rồi chút nữa chị em tôi đến sau.
Khi vào nhà trà nước xong rồi, Cô Ba Em mới hỏi: Thưa chị! Bấy lâu nay chị có nghe tin chi về anh và cháu không?
Bà Hội Đồng vừa thở ra vừa nói, bặt tin bặt tích. Ngoài nhà chức trách tận tâm tìm kiếm, tôi đã chạy tứ phương cũng vẫn phí công vô ích, chùa miễu nào linh, thầy bà nào hay tôi đều đi đến, rốt cuộc người cũng không giúp tôi được, mà Thánh Thần cũng gạt tôi bằng cã chục cây sâm! Hôm nay tôi đành thúc thủ.
Cô Năm Tý mới nói: Chị đi đủ tứ phương, nhưng! Tôi chắc chị đi còn thiếu một chỗ. Chỗ nào? bà Hội Đồng hỏi. Thưa chị, trên Tây Ninh.
Bà Hội Đồng cười và đáp rằng: Tưởng chị nói ở đâu, chớ Tây Ninh tôi leo lên điện bà có hơn ba lượt! Thưa chị, Điện Bà chị có lên, nhưng Tòa Thánh Cao Đài chắc chị chưa đến. Thú thật! Tôi chưa vào đó.
Bà Hội Đồng nói: Vì tưởng rằng mình không có đạo biết vô đó đặng không? Thêm lễ phép của đạo tôi cũng chẳng rõ, nên tôi muốn đi mà không dám.
Chị Ba Đăng cười mà nói rằng: Bà Hội Đồng khéo lếu thì thôi, cửa đạo bao giờ cũng mở rộng cho mọi người, để đón tiếp nhơn sanh một khi cần đến, đạo nào có ai ngăn ai cấm kẻ lạ đi vào bao giờ. Mặc dầu chị chưa nhập đạo, người ta cũng tiếp đón chị, đặng chỉ dẫn cho chị rõ một cách tường tận từ chỗ. Nếu chị muốn cầu khẩn việc chi, thì có sẳn phái nữ ở đấy thường trực để chỉ bảo cho chị.
Tôi dám quả quyết, nếu chị thành tâm cầu nguyện, trường chay rồi đến đó một phen, thì Đấng Chí Tôn sẽ giúp cho chị tìm ra tung tích của anh và cháu. Đấy cũng là một dịp may, không biết chừng đấng Chí Tôn khiến cho chị em tôi, hôm nay đi lạc xuống đây mà dắt dẫn dùm cho chị. Sẳn ngày rằm tốt ngày, thêm có nhiều người nhập môn, chị nên dọn mình nhập môn, tận tâm cầu nguyện sau khi kinh nhựt tụng, rồi chị sẽ thấy sự huyền bí của Thầy.
Một tia hy vọng cuối cùng một sự quả quyết của người đã nếm mùi đạo. Lâu rồi, làm cho bà Hội Đồng vì thương chồng thương con, vì uất ức cái chết bí mật không sao nguôi được. Bà chẳng ngần ngại chi hết, vui lòng nhập đạo một cách hết sức thành thật sốt sắng hơn ai hết, đến nỗi chư đạo hữu trong vùng Bình Tâm đều cãm động cử chỉ của bà, sự hành thiện của bà. Đổi cã tâm tánh của bà. Khi xưa, bà là người cau có quạo quọ vì sự uất ức. Nay thành một nhà từ thiện đạo đức không ai bằng.
III. LỄ ĐẠI TƯỜNG CỦA ĐỨC QUYỀN GIÁO TÔNG ĐẠO CAO ĐÀI LÀ ÔNG LÊ VĂN TRUNG.
Thật là một cái lễ lớn lao, cực kỳ long trọng trong lịch sử của Đạo ở xứ này. Vừa được tin ngày giỗ của Đấng Anh Cả, chư đạo hữu ở các nơi đều lần lượt đi về, kẻ xa đến trước người gần đến sau, lớp đi ghe, lớp đi tàu, người đi xe, kẻ đi bộ rần rần kéo về Tòa Thánh Tây Ninh, làm cho chật trong chật ngoài, thiếu chỗ ở. Mặc dầu trong đạo đã có lo trước sẵn cũng không đủ, làm cho đến nỗi họ phải dụm năm dụm ba, dưới tàn cây cao mà chịu. Ngày với sự nóng bức, tối lạnh lẽo với sương sa, hết sức kham khổ. Nhưng nét mọi người bao giờ cũng hớn hở, tươi cười trông cho đến ngày hành lễ.Vậy mới biết cái tinh thần của Đạo cứng rắn đến bực nào, người không ưa nó thấy vậy rất e ngại cho mai hậu. Trong Đạo có đặt một uỷ ban để điều tra nhân số của người về dự lễ, thì tính cã về người ngoài đạo đi xem, vì hiếu kỳ có hơn 80 ngàn người. Đó là một bằng cớ, sự phát triền của nền đạo Cao Đài đến bực nào.
Tới ngày hành lễ, tức là ngày chánh giỗ, một cái sân rộng mênh mông, Đạo gọi là Đại Đồng Xã, đối diện với Tòa Thánh đương cất, ngã đi vào có dựng một cái giống như Khải Hoàn Môn, trên đề Đại Đồng Xã. Cuối sân có dựng một cái đài cao chín nấc đạo gọi là Cửu Trùng Đài, trên đài có một bức tượng bán thân của ông Lê Văn Trung vẽ bằng dầu, bề ngang tám thước và bề cao cũng tám thước do nhà họa sĩ Vân Sơn phát họa. Cũng là một bức ảnh to lớn chưa từng thấy, oai nghi với sắc phục của Đạo, nghiêm trang với nét mặt đạo đức.
Ban ngày náo nức rền rang với các cuộc lễ, không sao nói đặng, đến đêm thì đèn điện sáng trưng, thiên hạ chen chưn không lọt, đáng khen nhất là sự đông đảo, đụng chạm của cã mấy chục vạn người mà chẳng một lời cãi cọ, một sự rầy la chi. Mặc dầu đạo có đặt một đội quân Bảo Thể đễ giữ gìn trật tự. Nhưng họ chỉ đứng để chỉ ngã, chỉ đường cho kẻ không biết mà thôi.
Tuy là lễ Đại Tường, nhưng có đủ các cuộc vui chơi theo lối đạo, có đốt pháo bông do người của Đạo làm ra, sự khéo và đẹp không thua pháo của Âu Mỹ. Nào là cộ đèn rực rỡ có giải thưởng. Mỗi tỉnh đều đem hết tài nghệ của mình để phô bày, hầu mong chiếm giải. Cộ Lân, cộ Long, cộ Qui, cộ Phụng, nhất là cặp Long Mã, khen ai khéo tập! Cách chạy cách múa, cách trửng giỡn với nhau, chẳng khác nào cặp ngựa thiệt. Cuộc vui chơi không sao nói siết, chỉ tóm tắt là xưa nay chưa từng có, cuộc lễ nào long trọng như cuộc lễ Đại Tường này.
Đến khuya sau cuộc đăng đàn, đọc diễn văn do các nhà cao cấp của Đạo xong rồi. Đúng giờ tý (canh ba) trên Khải Hoàn Môn kêu gọi bằng máy phát thanh, rền cã một vùng, rằng: 'Giờ hành lễ đã đến, xin mời thiện nam tín nữ vào dự lễ'. Tức khắc, rùng rùng đi vào ai ai đứng vào chỗ nấy, nam tả nữ hữu rất có thứ tự, dường như có sắp đặt trước. Bên nam mỗi hàng ngang, 100 bên nữ cũng vậy, bề dài 300 thì tính ra mỗi bên được 30.000 người, hai bên là 60.000 đứng sựng giữa trời, toàn là y phục trắng, chẳng khác nào một đại đạo hùng binh nghiêm trang, tề chỉnh mà chờ trống lịnh.
Nhạc bắt đầu khởi, lễ bắt đầu diễn do một vị Lễ Sanh phát thanh cũng bằng điện, vang một góc trời giữa đêm khuya tịch mịch. Ai có dự cuộc lễ ấy thì không bao giờ quên vẻ tôn nghiêm, khi nghe tiếng xướng dường như do trên không trung đưa đến với cái giọng ôn tồn, nhứt cử nhứt động của tín đồ đều do nơi tiếng xướng, cách sắp đặt thật không sao nói đặng. (còn tiếp) ◙
|