BẢN TIN SỐ 31
TRUNG NGUƠN TÂN SỬU - 2021

 

Nghinh Phong Đài gồm có 3 phần :

- Phần dưới hình vuông, tượng trưng Đất.

- Phần giửa hình ống tròn, tượng trưng Trời, vì người xưa cho rằng Trời tròn Đất vuông (Thiên viên Địa phương). Trời là Dương, Đất là Âm, Âm Dương tương hiệp mới phát khởi Càn khôn Vũ trụ và hóa sanh vạn vật.

- Phần trên của Nghinh Phong Đài là một bán cầu úp xuống, có vẽ bản đồ các lục địa và đại dương của Địa cầu, tượng trưng cõi trần của nhơn loại. Phía bên trên bán cầu nầy là hình Long Mã phụ Hà Đồ.

Trích từ: GIỚI THIỆU TÒA THÁNH TÂY NINH
do Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng biên soạn (02- 2003).◙

 

MỤC LỤC

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 

 


 )
 )(
 __)_(__
 __(_____)__
(((_________)))
 )    ׀    (

 

 

 

 

 

 


 

Chư Hiền thân kính,

Đại dịch Covid-19 đã gây cản trở mọi sinh hoạt cho tất cả cộng đồng nhân loại, theo đó không loại trừ cộng đồng Cao Đài New South Wales. Đây là loại chiến tranh vi trùng, mà tác nhân thuộc dạng trầm lặng, che mặt dấu hình, biến hóa khôn lường. Nguy hiểm!. Thế nên vấn đề y tế được các quốc gia đặt ưu tiên hàng đầu, hầu cứu lấy mạng sống con người, di lụy kéo theo tình trạng kinh tế suy thoái, khủng hoảng, chưa biết sẽ đi về đâu...

Hiện nay, sau hơn một năm dài dịch bịnh hoành hành, con người chủ trương “sống với , trường kỳ kháng chiến với ”. Nó là Covid. là đối tượng của Tứ Khổ và cũng có thể là sự thử thách của Đấng Tạo Hóa đối với sự ngạo mạn của con con người. Làm thế nào để thắng khổ, khi đã thọ khổ?. Việc “làm thế nào” tùy theo sự mẫn tâm, huệ trí của mỗi con người uyển chuyển sử trung trên phương diện đối nhân xử thế. Nhà văn Nguyễn Bá Học từng nói: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Qua ý tưởng trên, chúng tôi nghĩ tới lời thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp về sự thử thách lòng hiếu hạnh, trong đề tài “Nhiều kẻ được gọi mà ít người đến”. Ngài nói: “Nếu nền Đạo của Đức Chí Tôn phải tùng theo sự nồng lạnh mà thạnh hay suy, thì đây về sau Bần Đạo tưởng nếu trời mưa miết ắt diệt Đạo Cao Đài nầy đặng có phải?”. Đó cũng là ưu tư mà Tokyo không lùi bước, quyết tâm thắp sáng Ngọn Đuốc Thế Vận Olympic 2020 trong giờ phút chót, quả quyết thực hiện bằng được, hầu biểu lộ sự thành tín với Thế Giới, bất chấp sự rủi ro, thiệt hại ngân sách của quốc gia mình.

Lý do Bản Tin Hòa Hiệp số 31 với chủ đề Trung Ngươn tiếp tục dấn bước trong cố gắng chẳng đặng đừng, dầu trải qua đôi chút gián đoạn vì tình hình lockdown. Chỉ khổ cho Ban Biên Tập và người Trình Bày dài cổ chờ đợi bức Thư Ngỏ đến gần hụt hơi để có hôm nay.

Hy vọng chư Hiền đọc giả hài lòng với nội dung Bản Tin hàm súc nhiều chi tiết mới mẻ trong việc Tìm hiểu học Đạo; với những lời dạy chân tình của Đức Hộ Pháp về “Luật Thương Yêu và Quyền Công Chánh”; với Đức Thượng Sanh về phương pháp “Tu Thân” luyện kỷ, hầu trau giồi hạnh đức; với Ngài Hiến Đạo phân tích về “Nhơn Tước và Thiên Tước" ...v.v...

Đoạn chư Hiền đồng đạo hãy cùng trầm tư mặc tưởng bước chân đến “Trần Kiều Bóng Xế” của Ái Nhân, như để chia sẻ kịch bản của kiếp nhân sinh, theo đó mỗi chúng ta đồng chung diễn.

Lockdown! Không ngăn cản các Bạn Đạo Trẻ chịu thụ động ngồi chờ. Không làm được cách nầy, thì tìm phương thế khác. Nhiều em cháu tự học Giáo lý, Kinh sách Đạo, trao đổi kiến thức qua mạng, tâm tình thăm hỏi nhau qua điện thoại, viber... Ngoài ra, các em còn tự nguyện tìm phương cách làm từ thiện, giúp đỡ các nạn nhân khốn khó từ quê nhà. Hãy chia sẻ với Mộc Lan và Duyên Phạm với lời trần tình dễ thương: “How I turned my passion into compassion during the Covid-19 pandemic”“Embracing new challenges in the face of Covid-19 pandemic”.

Bức thư ngỏ được ghi trong cơn lây nhiễm tăng cao kỷ lục tại NSW. Thế nên, chúng tôi kính mong chư Hiền cùng gia đình đề cao cảnh giác và ngừa bịnh hơn là chờ trị bịnh.

Nhân mùa Trung Nguơn, thay mặt Ban Biên Tập BTHH, chúng tôi cầu xin Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và các Đấng Thiêng Liêng độ rỗi cho Cửu Huyền Thất Tổ siêu thăng tịnh độ và bố hóa cho “Cả chúng sanh thoát ly khổ nạn”.

Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

BBT/BTHH

 

 


 

 


 

24-12-1926

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ÐẾ VIẾT CAO ÐÀI
GIÁO ÐẠO NAM PHƯƠNG

Thầy lấy làm vui mà trông thấy các con hội hiệp nhau đêm nay mà tỏ lòng thành kính. Thầy để lời ban khen hạnh đức của phần nhiều trong chư môn đệ và chư ái nữ. Sự hội hiệp của các con chẳng phải vì nơi đạo đức mà thôi, lại cũng vì mối tương thân, tương ái nữa. Ngày nầy năm trước các con vẫn còn mơ màng trong giấc mộng trần, đường co duỗi vẫn đã lấp kín chút bợn trần, mà màn thế tục cũng chưa trông khỏa vén, lần lựa cúc xủ sương tan, mai gầy sen nở, ngày tháng qua chẳng là bao, mà thế thái nhơn tình biết bao thay đổi; kìa đai cân nhuộm nước màu thiền, nọ danh lợi xủ lằn trí huệ, Thầy cũng hoan tâm nắm máy huyền vi, mong rằng các con sẽ tận lực tận tâm đắp vững nền Ðạo đặng hoàn toàn mà dìu sanh chúng thoát khỏi tội tình; cùng nhau đỡ nâng đem lên con đường cực lạc, vẹt ngút mây xanh, trông vào lối thanh bạch thiêng liêng là chỗ từ xưa các chí thánh đã tổn lắm công phu mà chưa mong để mình đến được.

Thầy cũng để lời rằng: Phần nhiều trong các con chưa để hết tâm tánh giúp ích vào đường Chánh giáo, Thầy vì thương căn quả của các con mà lấy đức từ bi đặng Thiên phong cho các con là cố ý để cho các con hành đạo cho hoàn toàn, dễ bề tương công chiết tội tiền khiên hầu nâng mình vào nơi cựu vị; song nhiều đứa vẫn còn thế tục đeo đai, bước trần chưa trở nẻo, còn chất chứa gánh trần ai, ngổn ngang lằn gió bụi, chẳng hiểu rằng sự khổ hạnh trau mình là nấc thang để bước khỏi chốn luân hồi ràng buộc. Nếu Thầy chẳng vì thương tâm, thì các Tiên Phật đã ghi lỗi rất trọng hệ của các con mà chẳng khứng cho lập công chiết tội.

Phải thường hỏi lấy mình khi đem mình vào lạy Thầy buổi tối, coi phận sự ngày ấy đã xong chưa mà lương tâm có điều chi cắn rứt chăng? Nếu phận còn nét chưa rồi, lương tâm chưa đặng yên tịnh, thì phải biết cải quá, rán sức chuộc lấy lỗi đã làm, thì các con có lo chi chẳng bì bực Chí Thánh. Thầy mong rằng mỗi đứa đều lưu ý đến sự sửa mình ấy, thì lấy làm may mắn cho nền Ðạo; rồi các con sẽ đặng thong dong mà treo gương cho kẻ khác. Các con thương mến nhau, dìu dắt nhau, chia vui sớt nhọc nhau, ấy là các con hiến cho Thầy một sự vui vẻ đó.

 

Phụ ghi: 24-12-1926 (âl. 20-11-Bính Dần).
 

Trích từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.1 bài 74. Thánh giáo dạy sửa mình và thương yêu nhau.◙

 


 

 

của Đức Hộ Pháp


Tại Đền Thánh đêm 14 tháng 7 năm Quí Tỵ.

LUẬT THƯƠNG YÊU

Đêm nay Bần Đạo giảng Luật Thương Yêu, Quyền Công Chánh của Đức Chí Tôn đã đến ký Hòa Ước với chúng ta, để cả chơn truyền trong tâm hồn của ta.

Bần Đạo giảng về Luật Yêu Thương và Quyền Công Chánh đối với lẽ sống hiện tại của nhơn loại. Chúng ta đã ngó thấy, cả toàn thể nhơn loại nơi mặt địa cầu nầy, các dân tộc, các quốc gia liệt cường bị đảo lộn rối loạn, nhơn loại không được hưởng thái bình của Đức Chí Tôn hứa hẹn là do nơi khuôn Luật Thương Yêu và Quyền Công Chánh không có hiện tượng tại thế nầy.

"Nhơn tâm chi linh" Tâm con người ta bao giờ cũng vọng niệm thay đổi và theo luật định thiên nhiên của họ. Họ muốn dung hòa cả tâm lý nhơn loại, nhứt là hạng thượng lưu trí thức của nhơn loại đã đặt quá nhiều luật pháp, quá nhiều quyền hành, mà hễ càng đào tạo nhiều luật pháp và nhiều quyền hành chừng nào thì nhơn loại càng ly loạn chừng nấy, ở các nước giờ phút nầy cả nền chánh trị toàn thể nhơn loại bị đảo lộn. Họ muốn tìm cái giải pháp làm cho dung hòa tâm lý đặng đem cái hòa bình thiệt hiện

Hại thay! Họ đã tìm tàng không biết bao nhiêu phương pháp, họ định không biết bao nhiêu luật lệ mà không kết liễu gì hết. Bởi có các luật lệ ấy tùng theo luật tương đối nó vẫn mâu thuẩn nhau mà thôi, mặt luật duy nhứt là mặt Luật Thương Yêu mà thiên hạ quên lửng thiên hạ đã bỏ nó.

Hại thay! Bỏ nó thì nhơn tâm không có căn bản không có chuẩn thằng mực thước. Chúng ta thử nghĩ, trong một gia đình nếu không khuôn luật thương yêu ấy không có, thì chồng không thuận vợ, vợ chẳng thuận chồng, con không thuận cha, cha chẳng thuận con, tôi không thuận chúa, chúa chẳng thuận tôi. Hỏi ta lấy cái tối thiểu luận ra cái tối đại kia, trong gia đình ta chỉ dụng cái gia nghiêm mà thôi, gia nghiêm là khuôn luật thương yêu trong gia đình. Nếu ai đi ngoài vòng luật ấy thì không đặng, gia nghiêm buộc họ phải tùng theo khuôn luật thương yêu ấy mà thôi.

Chúng ta thử hỏi? Một bằng cớ hiển nhiên con ta không phải lớn hơn ta, mà tới chừng khuôn luật thương yêu bắt buộc ta tùng theo khuôn khổ thiên nhiên của nó.

Ngộ nghỉnh thay! Con ta đủ quyền sai khiến ta, vì tình thương yêu lợi dụng ta được mà thôi. Chúng ta thử lấy cái tối thiểu ấy so sánh với cái tối đại cả nhơn loại nếu mất luật thương yêu thì đem chìu sống của nhơn loại đáo đến nước tương tàn tương sát giết hại lẫn nhau, làm cho mặt địa cầu nầy phải chinh nghiêng, làm cho tâm lý nhơn loại đảo điên.

Chúng ta đã ngó thấy chán chường, thiên hạ đã nói tìm hòa bình, mà trong hòa bình ấy luật thương yêu không có hiện diện không có kết liễu hình tướng được, thì họ chỉ mò trăng nơi đáy biển mà thôi.

Cái khuôn luật thương yêu nó làm mực thước cho chúng ta đặng định quyền công chánh trong một gia đình, nếu vợ không công chánh với chồng, chồng không công chánh với vợ, thì gia đình không thể gì hòa đặng. Vua không công chánh với tôi, tôi không công chánh với vua, không lấy tâm não làm mực thước thì trong nước không có hòa đặng. Nhơn loại cả toàn thể không có công chánh đối đãi với nhau, thì nhơn loại ly loạn mãi thôi, chẳng hề khi nào hưởng được cái hạnh phúc hòa bình.

Ấy vậy khuôn luật của Đức Chí Tôn để trong cửa Đạo, là khuôn Luật Thương Yêu và cái quyền hành Công Chánh.

Giờ phút nào nhơn loại biết lợi dụng mặt luật và quyền năng ấy mới đem cái hạnh phúc hòa bình cho nhơn loại tương lai tới đây. Bằng chẳng vậy, thì cái nạn tương tàn, tương sát vẫn tiếp tục mãi mà thôi.

 

Phụ ghi:
ngày âl. 14-07-Quý Tỵ nhằm ngày (dl. 23-08-1953).

 

Trích từ Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Q.6-1 bài 23.◙

 

 

Nếu nhơn loại biết trụ cả đức tin lại làm một khối thì không có chuyện gì mà nhơn loại không làm đặng. Bần Đạo nhận thấy được cái sự nghiệp kinh doanh do tinh thần đoàn kết, cái đời sống an nhàn no ấm do công bình nhân ái của mấy em tức là Bần Đạo đã được hưởng một phần hạnh phúc tại thế đó vậy.

Qua năm tới đây, Bần Đạo rất trông cậy ở lòng nhiệt thành của toàn thể hãy giúp cho Ban Quản Trị và Hội Thánh hoàn thành Chợ Long Hoa thiệt (vì hiện giờ chỉ là tạm thôi). Khi thiệt thọ rồi Bần Đạo dám chắc rằng đời sống của mấy em sẽ tăng thêm không biết bao nhiêu tươi đẹp nữa và ngôi nhà chung của chúng ta là một Tông Đường để đào tạo đám thơ sinh tiếp tục làm Thánh Thể Đức Chí Tôn thừa chí đem hết năng lực, tâm tình đặng cứu khổ chúng sanh.

Trích từ Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp Q.6-1 bài 24
Khánh thành Văn phòng Ban Quản Trị chợ Long Hoa, ngày 15-7 Quí Tỵ (dl. 24-08-1953).◙

 

 

 


 

 

của ÐỨC THƯỢNG SANH CAO HOÀI SANG

 

TU THÂN
(Trích ở báo DUY TÂM số 3 ngày 18/5/1948)

 

Giữa lúc thế giới cạnh tranh, bốn phương loạn lạc, mạnh vì thế, khôn vì tiền, đang lúc quốc dân bồng bột giành giựt vì sanh kế, mà đem vấn đề Tu Thân ra bàn bạc thiết tưởng cũng một sự rất hạp thời.

Chẳng lẽ người đời vì bao nhiêu nỗi khó khăn để sống lại quên hết lẽ phải, miễn sao cho no cơm ấm áo là được.

Ðời trị hay loạn, hưng hay vong là do trong nước có hay không những bậc vĩ nhân, đạo đức biết nói lẽ phải của Thánh hiền để tề gia trị quốc. Các bậc ấy, trước khi đem thân làm việc có ích cho đời đều có học, mà cốt yếu sự học là ở nơi sự sửa mình.

Xưa các bậc Thánh nhân đã dạy từ vua cho đến dân ai cũng lấy sự sửa mình làm gốc. Muốn cho thành người đức hạnh hoàn toàn phải giữ cái ý cho thành, cái tâm cho chánh, Tâm đặng chánh, ý đặng thành là nhờ lấy trí khôn ngoan xét đoán cùng tột của mọi loài suốt tới chỗ uyên thâm của sự vật. Cách vật trí tri rồi mới định tỉnh mà thành ý, chánh tâm, vì vật có gốc ngọn, sự có đuôi đầu. Nhờ lấy lý soi dẫn cái tâm cho chánh, cái khí cho thanh, nên vật ở ngoài không làm chênh lệch, đủ định được điều phải quấy, quyết được việc hiềm nghi, vả lại tâm là của hình thể, chỉ ra lịnh khiến chớ không chịu lịnh sai. Bên trong tuy có năng lực thiêng liêng nhưng bên ngoài có thất tình lục dục, nếu tâm không có phương gì làm chuẩn đích thì thường hay bị cám dỗ, ngã theo điều tà vạy, tạo ra việc bất đức vô nhân.

Bậc vua chúa đời trước muốn tránh khỏi sai lầm hay muốn sửa mình, có đặt ra quan Gián nghị, đặng can gián những hành động bất chánh của mình, nhưng quyền quân chủ quá ư tối cao, nhiều vị quan chịu chết về phận sự, mà không có kết quả chi hết.

"Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" cái thuyết của Mạnh Tử xuất hiện cũng vì lẽ đó. Ðó là về phần vua chúa.

Về phần quan lại Phụ mẫu chi dân quyền hành rất rộng rãi, một tay sanh sát, ra có kẻ bẩm, người trình, đối với dân đen là bậc thánh thần bất khả xâm phạm, nếu chẳng giữ tâm chánh, để dục vọng lôi cuốn, thì trăm họ lầm than muôn dân khổ sở. Làm quan thế ấy là cốt lê thứ xây đài các, lo túi cho đầy, thân cho sang, mặc ai đau đớn! Vậy mà cũng tự cho là vinh diệu!

Ðó là tâm không chuẩn đích, mà chuẩn ấy là Ðạo vậy.

Muốn khỏi hổ cùng trời đất, khỏi thẹn với cỏ cây, người quân tử phải nương theo Ðạo mà thi hành. Ðạo là cái khuôn khổ, là con đường để noi theo đặng hành động cho chánh đáng đối với lẽ phải của người mà Tạo hóa đã phú cho tánh linh hơn vạn vật. Nói theo lẽ Ðạo thì lòng được trong suốt, càng học đạo càng biết sửa mình, không thể sai lầm được nữa.

Bậc vua chúa, kẻ quan quyền hay hàng dân thứ, hễ đạt được lẽ mầu nhiệm của Ðạo, sửa mình cho ra bậc quân tử, khi bình tỉnh để tâm tự xét, thường thấy mình có ý khuynh hướng về những điều thanh cao thoát tục mà bất mãn về những nỗi hèn hạ nhỏ nhen của thế tình nhân sự.

Ðời có Ðạo, tức là có kỷ cương trật tự, người quân tử đều ra ứng dụng, đem cái hay cái biết của mình mà thật hành cho đời nhờ. Vì đó mà được chúa Thánh tôi Hiền, muôn dân cảm mến, nên cần mẫn chơn chánh, biết lo nghĩa vụ giữ liêm sĩ. Trong nước trên thương dưới, dưới kính trên, vắng trộm cướp, khỏi luật hình, vì quốc dân đặng bảo bọc giúp đỡ cho có nghề sanh nhai. Ðường không lượm của rơi, nhà không đóng cửa, ấy là đời thạnh trị của Nghiêu Thuấn vậy.

Ðời không Ðạo, tức là kỷ cương rối loạn, kẻ gian nịnh lộng quyền. Vua không chánh, tôi chẳng ngay, người quân tử chẳng lẽ không giữ cái khí tiết trong sạch, cùng ra chen vai với đám tiểu nhơn, nên tự lui bước để sửa mình. Vì đó mà luân thường điên đảo, tà chánh bất phân, mối nước chinh nghiêng, muôn dân đồ thán, ấy là đời ly loạn của Kiệt Trụ vậy.

Tóm lại, cái chủ đích học vấn của người là đem cái đức sáng suốt của Trời phú cho mà sửa mình trong sạch hoàn toàn, phải lắm công phu, bền chí, hay xét mình, biết người biết ta, cái kết quả mới chắc chắn. Trong bốn công việc chánh: Tu, Tề, Trị, Bình của Khổng giáo, việc tu kỷ là quan trọng nhứt. Nhưng khi được thành công, những hạng quân tử là phần tinh hoa của nhơn loại, các triết lý cao siêu họ đều thông hiểu, Tánh tình cao khiết, hành động đoan trang, họ yêu đời tha thiết thương dân chúng nồng nàn, lấy hạnh phúc của người làm của mình, coi người khổ như mình khổ. Chỗ phải Ðạo thì tới, nơi vô đạo thì lánh xa, xem công danh như dép rách, nhắm phú quí tợ bèo trôi, sắc đẹp chẳng động được lòng, cảnh nguy không thay được chí.

Ðó là những bậc đáng làm kiểu mẫu cho đời, có thể dìu dắt nhân sanh trên con đường tấn hóa.

Xưa nay những trang mẫn thế ưu thời, những bậc tài cao học rộng chẳng thiếu chi, nhưng đạo đức không dồi dào, nghĩa nhân không đầy đủ, nên cái kết quả hành vi của họ đối với xã hội quốc dân vẫn lắm mờ hồ.

Thật đáng tiếc!

HUỆ GIÁC

 

Trích từ Tiểu Sử và Lời Thuyết Đạo của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang. Tu Thân (Trích ở báo DUY TÂM số 3 ngày 18/5/1948).◙

 

 

KHUYẾN TU

Trước làm Tiên Phật phải làm người,
Muốn đặng làm người chẳng phải chơi.
Bác ái ví chưa tròn bước Ðạo,
Từ bi đâu vẹn chí thương Ðời.
Mùi trần dầu thoát bao vòng lụy,
Bể khổ còn qua mấy dặm khơi.
Trau rạng lòng son sanh chúng độ,
Thênh thang nương bóng ngọn đèn Trời.

HUỆ GIÁC
(1948)

Trích từ Thông Tin số 98 ngày 25 tháng 04 Giáp Dần (Dl. 16/5/1974) trang 14, do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành.◙

 

 

 


 

 

của Ngài Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài

 

THIÊN TƯỚC, NHƠN TƯỚC, CHỨC SẮC THIÊN PHONG

 

Quí vị đã có đọc Thánh giáo, chắc quí vị còn nhớ trong một bài thi có câu:

"Nhơn tước vốn nơi thiên tước định,
Quyền phàm là của thế phàm đưa."

Tôi xin giải về nhơn tước và thiên tước, phỏng theo lời thầy Mạnh:

Có danh tước của trời cho, có danh tước của người cho. Nhân nghĩa: ái nhân, ái vật, hành động theo lẽ phải, hợp tình, hợp lý; trung tín: trung trực và tín thành, không phản bội, không lừa dối; lạc thiện bất quyện: vui say làm điều thiện mà không chán mỏi, đó là cái tước của trời cho, nên gọi là thiên tước.

Quan công khanh, quan đại phu đời xưa cũng như chức Tổng Trưởng, chức Bộ Trưởng, chức Đại Sứ hiện nay là cái tước của người cho, ấy là nhơn tước đó vậy.

Thiên tước tuy nói của trời cho, kỳ thực là cái tính chất có sẵn nơi mình. Như nói (Thông minh vốn sẵn tính trời), hoặc người quốc sắc, kẻ thiên tài, thì thông minh và thiên tài là thiên tước.

Người đời xưa chỉ một mực, lo tu sửa cái thiên tước của mình, mà nhơn tước tự nhiên đến. Cũng như học sinh, sinh viên trong lúc còn đang học tập, cố gắng học tập cho hay mà không nghĩ việc học là để mưu cầu lợi lộc thì sự học vấn có thể đi đến chỗ cao thâm. Đến khi công đã thành, danh đã toại, bổng lộc sẵn dành, không cầu mà được. "Nhơn tước vốn nơi thiên tước định".

Người đời nay đã lo sửa cái thiên tước để cầu lấy cái nhơn tước. Khi đã được cái nhơn tước rồi, liền bỏ quách cái thiên tước đi, thiệt là mê muội quá chừng. Người thế ấy sau cùng, thiên tước mất, rồi đến nỗi nhơn tước cũng mất luôn. Điển hình: một quan chức bị sa thải, vì kém đức tốt, thiên tước mất, đồng thời quyền chức cũng không còn, nhơn tước mất luôn "Quyền phàm là của thế phàm đưa".

Lòng muốn cái tôn quí, ai ai cũng như nhau cả, thế mà không ai nghĩ đến cái tôn quí tự mình đã có sẵn. Cái tôn quí đắc lộc, đắc vị, đắc danh không phải thật là tôn quí. Nó vốn là nhơn tước, là của người ban cho người. Hễ cái gì của người ban cho được, thì có thể người lấy lại được.

Cái tôn quí tự mình có sẵn là cái của trời cho mới thật là tôn quí. Những đức hạnh như trung tín, nhân nghĩa, hiếu thuận vốn là thiên tước, không ai mang đến cho mình, mà cũng không ai cướp đoạt được của mình. Ta phải tu thiên tước để làm tăng phẩm giá của ta càng ngày càng cao, nếu ta tự hại, tự bỏ cái thiên tước, thì không sao tìm lại được. Vậy ta cần phải tu thiên tước.

Thưa quí vị.

Đương thời buổi nầy, đem đạo đức nhân nghĩa ra mà nói trong thiên hạ, e có kẻ cho là thừa, là lỗi thời, không bổ ích vào đâu. Xin thưa, bao giờ còn người Việt Nam, còn đất đai, sông núi của người Việt Nam, thì câu chuyện đạo đức nhơn nghĩa vẫn còn.

Chức sắc Thiên phong.

Là Chức sắc của Trời phong. Đức Chí Tôn lập Đạo kỳ nầy, dùng huyền diệu cơ bút, nói lên sự thật, dạy dỗ nhơn sanh theo đường đạo đức. Từ sự phổ thông chơn đạo đến sự tổ chức nội bộ cũng do nơi cơ bút mà ra. Đức Chí Tôn thâu nhận các đẳng cấp nhơn sanh, tuỳ khả năng của mỗi người, phong phẩm tước có cao thấp khác nhau lập thành một chánh thể tượng trưng Thánh Thể Chí Tôn. Mỗi phần tử trong Thánh Thể có nhiệm vụ chung: truyền bá và phổ thông chơn đạo.

Nên biết, những người may mắn được ân phong vào hàng chức sắc, không phải toàn là những người trọn lành. Có kẻ có công, có người có tội; có kẻ có hạnh đức tốt, có người có tư cách không được đúng đắn. Có người thấy vậy, ngờ Chí Tôn lầm lạc trong sự chọn lựa. Đừng nghĩ vậy mà đắc tội, Chí Tôn không bao giờ lầm. Sự lựa chọn không đều đó, cũng là do thiên ý. Kẻ có công, có đức, được đặc ân bồi dưỡng thêm cho được tận thiện là "tài giả bồi chi". Còn những người có tội, tài chất nghiêng ngã, Chí Tôn vì đức háo sanh, không nỡ để "khuynh giả phúc chi" cho họ tan nát đổ vỡ. Theo Thánh ý, Chí Tôn muốn kẻ có tội có phương tiện ăn năn sám hối, trả nợ tiền khiên, và cũng vì lòng từ bi bác ái, Chí Tôn muốn tận độ nhơn sanh trở về nguồn cội, tức là trở nên người có phẩm cách thanh cao, nghĩa là người phải thật là người, chớ không phải nửa người, nửa ngợm. Chí Tôn cũng vì lẽ đó mà thường nói: "Đạo phát trễ một ngày, là một ngày hại nhơn sanh". Cái hại đây không phải cái hại chết chóc về binh đao nước lửa, mà cái hại đây là cái hại mất phẩm làm người. Đã sanh ra được làm người là quí lắm rồi, lại gặp kỳ Đạo Trời khai mở, thì còn gì quí bằng? Nếu để cho mất phẩm làm người thì cái hại lớn lao biết bao giờ cứu vãn!

Chư Chức sắc Thiên phong phải đặt nặng phẩm tước mình mà lo tròn trách vụ. Phải tỏ ra đáng mặt làm anh, dìu dắt con cái Chí Tôn là đàn em của mình trên bước đường tiến đức. Phải dạy bảo đàn em những gì đàn em chưa biết. Những gì đàn em còn thắc mắc, kêu ca hoặc chỉ trích chỗ sai, phải vui vẻ chấp nhận giãi bày cho đàn em được thoả mãn. Em lỡ có lỗi lầm cùng anh, anh nên có độ lượng khoan dung. Phải xem toàn thể chư tín hữu như anh em một nhà trong tình thương cốt nhục đồng bào, tương thân tương ái, vui buồn chung cuộc; anh phải đạo anh, em phải đạo em, trên thuận dưới hòa, gần gũi nhau, hiểu biết nhau, mới dạy dỗ cho nhau điều hay lẽ phải.

Chức sắc Thiên phong là người của Chí Tôn giao phó sứ mạng lập Đạo dìu Đời, là ngọn đèn, là gương soi của nhơn loại, phải tập mình cho xứng đáng. Nên thận trọng mà lo tròn thiên chức, chớ hẫng hờ mà quên bổn phận, và đừng làm hoen ố Thánh Thể Chí Tôn.

Nếu cả Chức sắc, Chức việc đồng nhứt tâm cố gắng hành Đạo đúng theo luật pháp chơn truyền thì có lo chi Đạo không được hoằng khai. Người làm cho Đạo rộng lớn ra, chớ Đạo tự nó không làm cho người rộng lớn ra được.

Tôi xin nhắc lại: Nhơn tước là cái tước của người cho. Thiên tước là cái tước của trời cho vốn sẵn có nơi mình. Cần phải tu sửa để giữ cái thiên tước còn mãi, không mất.

Thiên phong là cái phẩm tước của Trời phong do cơ bút. Phải chính chắn xem trong cái phẩm ấy mà làm cho tròn cái trọng trách của Trời phú cho. Đừng nông nổi mà làm mất Thánh chất, phẩm Thiên phong hóa ra phẩm phàm phong.

Nay kính.

HIẾN ĐẠO

 

Trích từ TIẾNG GỌI của Ngài Hiến Đạo Hiệp Thiên Đài, trang 50 53.
Bản in ronéo 1973 do Chức Sắc và Nhân Viên văn phòng Hiến Đạo thực hiện.◙

 


 

 


Đạo Sử Quyển Nhứt - 1975. Lời Tựa Hội Thánh Hiệp Thiên Đài

 

"ĐẠO SỬ Quyển Nhứt - 1975" do Ban Đạo Sử - Tòa Thánh Tây Ninh biên soạn dự kiến phát hành cho hậu thế hiểu rõ về sử liệu Lịch Sử Đạo Cao Đài nhưng chưa thực hiện được.

Do hoàn cảnh lịch sử sau năm 1975 biến cố Ban Đạo Sử bị phóng hỏa, nên bản thảo Đạo Sử Quyển Nhứt không biết lưu về phương nào? Vận Đạo thăng trầm theo vận nước quả thật không may!

Bản thảo "Lời Tựa Hội Thánh Hiệp Thiên Đài" do Ngài Khai Đạo Phạm Tấn Đãi, Trưởng Ban Đạo Sử và Thơ Viện biên soạn, may duyên còn sót lại, nay Thánh Thất NSW xin mạn phép phổ biến rộng rãi cho thế hệ kế thừa lưu giữ.

Thánh Thất NSW cẩn bút.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
------

ĐẠO SỬ

Lời Tựa
Hội Thánh Hiệp Thiên Đài

Buổi Đức Thượng Sanh còn Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, ngày 14 tháng 8 năm Nhâm Dần, dl. 12 tháng 9 năm 1962. Đại Hội Lưỡng Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng. Do thư của Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức gởi cho Đức Thượng Sanh xin vào làm đạo cộng tác với quý vị Thời Quân về việc Đạo.

Căn cứ theo Thánh Thơ của Ngài Hiến Pháp, Bần Sĩ Khai Đạo Hiệp Thiên Đài nhận xét nền Đại Đạo đã trải qua gần bốn mươi năm mà không ai để ý chọn lựa người cố cựu am hiểu rành rẽ để đởm đương soạn biên bổn Đạo Sử, sưu tầm ghi chép các việc đã qua và hành vi của quý vị chức sắc tiền bối hoặc tốt hoặc xấu để nêu gương lưu niệm sau nầy cho đoàn hậu tấn biết. Nên Bần Sĩ đề nghị với Hội Thánh Hiệp Thiên Đài giao vụ soạn biên Đạo Sử nầy cho vị Thời Quân Hiến Pháp lãnh trách nhiệm lo sưu tầm sử liệu để bổn Đạo Sử ra đời sớm sớm.

Hội Thánh biểu quyết chấp thuận giao cho vị Thời Quân Hiến Pháp lãnh là Trưởng Ban Đạo Sử.

Ngài Bảo Thế Lê Thiện Phước nói việc soạn bổn sử của Đạo Cao Đài nên viết ra lâu mà mấy năm đã qua quên lửng, nay Ngài Khai Đạo trình ra mới nhớ. Vậy anh Hiến Pháp nên lãnh đi, vì lẽ anh là một vị chức sắc đã nhập vào Đạo từ nền Đạo mới phôi thai đến ngày nay.

Ngài Hiến Pháp vui lòng lãnh trách nhiệm Trưởng Ban Đạo Sử. Ngài trọn quyền lựa chọn những nhơn viên phụ trách.

Hội Thánh Lưỡng Đài đã cấp những chức sắc để công tác và sưu tầm sử liệu thời gian qua đến ngày 11 tháng 6 năm Mậu Thân, dl. ngày 6 tháng 6 năm 1968 trôi qua đã sáu năm mà chưa ra được bổn nào.

Đức Thượng Sanh chấp thuận cho Ngài Hiến Pháp triệu tập nhơn viên thêm để mở rộng Ban Đạo Sử.

Qua năm Giáp Thìn ngày mùng 1 tháng 2, dl. 14 tháng 3 năm 1964 Ngài Hiến Pháp có đăng trong tạp chí Đại Đạo Nguyệt San số 3 trang 5 một đoạn sử tựa đề "Đạo Sử Nói Về Cơ Bút".

Đạo Sử còn đang sưu tầm chớ chưa xuất phát được quyển nào.

Qua năm Tân Hợi 1971 Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang đăng Tiên vị.

Ba tháng sau Ngài Hiến Pháp được Hội Thánh Hiệp Thiên Đài bầu lên lãnh trách nhiệm Chưởng Quản Hội Thánh Hiệp Thiên Đài thay thế cho Đức Thượng Sanh.

Ngài Hiến Pháp Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài ra Thánh Lịnh số 3/TL ngày 26 tháng 5 Tân Hợi, dl. 18 tháng 6 năm 1971 giao cho vị Thời Quân Khai Đạo lãnh những nhiệm vụ: Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh, Giám Đốc Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Viện Đại Học Cao Đài, Trưởng Ban Đạo Sử và Thơ Viện.

Khi đắc nhiệm vụ kể trên thì Bần Sĩ lo vận động đầu tiên tìm thế xin lập cho kỳ được Viện Đại Học Cao Đài, nên thường lên xuống Saigon giao thiệp với chánh quyền lo thủ tục và yêu cầu ông Tổng Trưởng Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên và các ban bộ lệ thuộc cứu xét giùm. Trải qua hơn một năm mới được phép.

Đến năm 1973 Bần Sĩ xán bệnh đau bao tử nặng phải nằm bệnh viện Saigon, Tây Ninh cả năm. Sau nhờ ông Giáo Sư Bác Sĩ Phạm Biểu Tâm đứng giải phẫu mới mạnh được. Thời gian ra khỏi bệnh viện Saint Paul về nhà dưỡng sức, tám tháng nữa mới lợi sức khỏe. Bần Sĩ trình lên Hội Thánh xin trở vào hành sự lo sắp xếp các việc Bần Sĩ đã thọ lãnh. Vấn đề Trưởng Ban Đạo Sử, Bần Sĩ phối hợp với quý vị chức sắc trong Ban lo sưu tầm sử liệu thêm và bắt đầu chung lo soạn ra các sử liệu đầu tiên để sấp in ấn tống ra quyển thứ nhứt hầu phổ biến nền Đại Đạo về Đạo Sử "Cao Đài".

Đạo là gì?

Đạo là Hư vô chi khí. Đạo rất mầu nhiệm cao siêu sâu kín. Trước khi có Trời Đất đã có Đạo.

Đạo đã tạo dựng nên càn khôn vũ trụ hóa sanh vạn vật muôn loài phải thọ bẩm Hư vô mà sanh ra.

Đạo là con đường cho Phật Tiên Thánh bị đọa trần do theo đường lối chánh mà hồi cựu vị.

Đạo là con đường cái để dùng chỉ phỏng một mối duy nhứt của tâm lý loài người.

Đạo là con đường chánh của các nhơn phẩm do theo mà lánh khỏi luân hồi. Nếu chẳng phải do theo Đạo thì các bậc ấy đều lạc bước mà mất hết ngôi phẩm. Chữ Đạo đã chỉ cái nguyên lý tuyệt đối đã có từ trước khi khai thiên lập địa, không sinh không diệt, không tăng không giảm.

Đạo có thể quan niệm dưới hai phương diện Vô và Hữu.

Sử là gì?

Sử là tấm gương sáng để soi cho biết trái phải, việc thiện ác, việc đặng thất, khen chê, việc khuyến khích và trừng phạt. Việc hưng suy của Đạo, việc nên hư của chánh giáo, việc hậu bạc của phong tục. Việc giỏi dở của nhơn vật, các lần Đạo bị khảo đảo.

Nếu không ghi chép để lại sự tích của các vị Tiền Bối thì người đời sau nầy biết đâu mà tìm, nên kể lại những sự hành vi sáng tác, nhưng tuy đời đổi dời chớ lời nói lành sẽ được truyền mãi mãi.

Vạn vật đầy đủ bản ngã, quay về bản thân, mỗi người mà thành thật, thì thấy nguồn lạc thú vô biên.

Viết sử cần phải vô tư thanh khiết viết lại những dòng lịch sử đầy đủ dũng cảm, đầy hy sinh của bao nhiêu chí sĩ trong nền Đại Đạo hầu lưu lại cho những nét dấu đau khổ cho người đời sau làm gương soi sáng.

Đây là tinh thần tập thành Đạo Sử. Đạo Tam Kỳ không bài bác Tôn Giáo nào để được độc tôn riêng. Mỗi tư tưởng trong Tôn Giáo đều có điều cơ sở dụng của nó.

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là qui Tam Giáo Hiệp Ngũ Chi. Tam Giáo điển hình là Phật Giáo, Lão Giáo, Nho giáo. Cả ba giáo lý ấy đều phát xuất từ trong văn hóa truyền thống Á Đông. Phật Giáo thuộc về truyền thống "Védas" bên Ấn Độ, Lão Giáo và Nho Giáo thuộc về truyền thống Thi Thư bên Trung Hoa.

Đặc tính của tư tưởng truyền thống là khởi điểm từ cái trực giác nguyên thủy hổn nhiên, vạn vật nhứt thể.

Nói về Sử Đạo phần đông ai ai cũng mong mỏi ra sớm, nhưng nó không thể một sớm một chiều mà lập thành được. Vì soạn giả cần phải sưu tầm và nghiên cứu cho đầy đủ sử liệu để đúc kết nên một pho sử đầy đủ.

Bổn Đạo Sử nẩy, của Cao Đài Giáo đáng lẽ được ra lâu rồi. Nhưng vì các lý do bày tỏ sau đây mà soạn giả không tiện cho ra sớm.

Lý do thứ nhứt. Trước hết là vì Đạo và vì nhơn sanh. Cần phải tôn trọng tín ngưỡng. Cần để cho đức tin mỗi người được đầy đủ. Một số thiện nam tín nữ đã theo Đạo với sự háo kỳ hoặc non lòng nhẹ dạ, chỉ biết nhận xét một mặt mà thôi.

Lý do thứ nhì. Là cần phải sưu tầm sử liệu và nghiên cứu sâu rộng đầy đủ những kinh sách đạo đức luận về tôn giáo Cao Đài và những lời tiên tri trong kinh sám trong nước và ngoại quốc. Tất cả hành vi của chức sắc, chức việc, đạo hữu đã đảm nhiệm thời gian qua.

Trước hết xin kể sơ lược Đạo Cao Đài do đâu mà xuất hiện.

Năm Giáp Tý 1924, nhân dịp có ông Đại Úy Pháp J. Bonnet một hội viên của Hội Thần Linh Học Pháp, là bạn thân của ông Cao Quỳnh Cư đến thăm; khi biết được Đại Úy nầy thông công được với thế giới vô hình. Ba ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang yêu cầu Đại Úy J. Bonnet ngồi đồng cốt giúp cho ba ông trao đổi tư tưởng với cõi vô hình.

Đại Úy J. Bonnet vui vẻ nhận lời giúp ba ông.

Nghi thức sắp đặt một cuộc thông công được tổ chức. Đại Úy J. Bonnet ngồi đồng một Đấng Thiêng Liêng giáng:

Quý ông hỏi các Đấng Thiêng Liêng:

Bốn tôn giáo hiện có tại Việt Nam Nho Giáo, Phật Giáo, Lão Giáo và Gia Tô Giáo, vì có những điểm dị đồng nên thường sung khắc nhau. Bốn tôn giáo ấy có thể hòa hợp được với nhau không? Cũng như hai nền văn minh Đông Phương và Tây Phương có thể hòa hợp với nhau chăng?

Các Đấng Thiêng Liêng khuyên:

Tín ngưỡng bắt nguồn từ lương tâm, lương tâm khắc nhau tùy theo trạng thái tinh thần của mỗi con người. Nó không có cá tánh, cũng chẵng bao giờ bị tiêu diệt, bởi vì nó thoát sinh ra ở nơi Thượng Đế. Vậy tự do tín ngưỡng phải được tôn trọng cho tất cả mọi con người, nhưng sự hòa hợp trong tinh thần Chân-Thiện-Mỹ phải là một nhiệm vụ bắt buộc...

Đây là lần đầu ba ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang thông công với cõi vô hình.

Thế kỷ hai mươi, phong trào nghiên cứu Thần Linh Học ở Âu Châu tràn sang Việt Nam - Khám phá thế giới vô hình là chủ đề chính của sách báo, tạp chí thời ấy.

Trong giới nghiên cứu Thần Linh Học ở Việt Nam, đủ các hạng người, nhưng ông Cao Quỳnh Cư đã có một lần chứng kiến cuộc thông công với các Đấng vô hình, nên ông say nhứt ước vọng liên lạc bằng mọi cách, luôn luôn chiếm ngự trong tâm trí ông và một số người đồng chí hướng.

Nhân ngày Chúa Nhựt 5 tháng 6 năm Ất Sửu, dl. 25 tháng 6 năm 1925, ông Cao Quỳnh Cư đến thăm ông Cao Hoài Sang gặp ông Phạm Công Tắc cũng đến đó, vì ở chung một dãy phố đường Hàng Dừa gần bên chợ Thái Bình nay là đường Cống Quỳnh Saigon.

Ba ông thường đến với nhau, mượn chung trà, lời thơ, cung đàn, ký gởi nỗi lòng cùng một cái đau quê hương đang quằn quại dưới gót xâm lăng cùng một cái nhục đồng chủng đang rên siếc dưới xiềng nô lệ. Lúc nào cũng canh cánh bên lòng tình thương dân yêu nước. Nhưng than ôi! Thương yêu thì để dạ chớ biết làm sao! Vì tình trạng lúc ấy là lúc nước nhà bị đô hộ, mấy ông bạn ấy là người vì hoàn cảnh bắt buộc phải giúp việc cho Pháp để đổi lấy đồng lương. Tuy bề ngoài thì hiệp tác như vậy, nhưng bên trong thì bao giờ cũng muốn hy vọng giải phóng dân tộc. Nhờ vậy mà ba bạn chí sĩ nói trên mới nghĩ ra chuyện xây bàn để liên lạc với thế giới vô hình cầu thỉnh các vong linh của người quá cố về, làm thi họa vận và học hỏi thăm việc nước.

Trong số có vong linh Ngài Tả Quân Lê Văn Duyệt đến cho thi rất cảm kích và rung động làm cho các bạn say sưa với việc xây bàn. Sau lại có các vong linh khác, trong số có Cô Vương Thị Lễ (tức là Thất Nương Diêu Trì Cung) tá danh là Đoàn Ngọc Quế về cho thi rất hay và cảm động. Sau hết có một chơn linh khác xưng danh là A.Ă. đến cho nhiều bài thi xuất sắc và xây hướng đàm luận về đạo đức, rồi kết quả là hợp thành một nhóm đồng chí để hằng ngày tiếp xúc nhau, và cầu nguyện thỉnh ý ông A.Ă. về tương lai chung của Tổ Quốc Việt Nam. Ông A.Ă. vui lòng cho biết bằng cơ bút mà độc giả sẽ được thưởng thức trong nhiều bài Thánh Giáo trong mỗi quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

Nhơn dịp Lễ Giáng Sanh Đức Chúa Giê Su (Jésus Christ) đêm 24 rạng 25 tháng 12 năm 1925. Ông A.Ă. giáng cho thi nói về Lễ Giáng Sinh. Một thời gian xây bàn thông công cùng Các Đấng. Sau nầy mới dùng Ngọc Cơ mà cầu hỏi.

Từ đó, Đức Cao Đài thường giáng dạy đạo lý cho nhóm nội ứng nầy, xưng là Thầy trò với các vị nầy và sau cùng dạy anh em trong nhóm, muốn học hỏi về Đạo, hãy đến nhà Phủ Chiêu thì rõ.

Ông Phủ Ngô Minh Chiêu là một công chức tùng sự ở Tỉnh Hà Tiên mới đổi về Saigon. Ông đã chỉ rành về phương pháp cầu cơ, do hai vị Đồng Tử chấp Ngọc Cơ cho các Đấng Thiêng Liêng giáng dạy. Vì ông Phủ Chiêu thường hay lập đàn cầu Tiên ở các Động trên núi đặng học Đạo, khi còn hành quyền ở Hòn Phú Quốc tỉnh Hà Tiên. Ông Phủ Chiêu là người tốt phước, nên đặng chư Tiên giáng dạy trước. Nhứt là vị Tiên Trưởng xưng danh hiệu "Cao Đài" đã thâu nạp ông Phủ Ngô Minh Chiêu làm đệ tử và dạy ông phải truyền dạy đạo lại cho cả nhơn sanh. Đối với ông Phủ Chiêu, ông chỉ biết và nhìn nhận Đức Cao Đài là một vị Đại Tiên giáng dạy đạo cho Ngài mà thôi. Đức Đại Tiên chưa cho môn đệ biết là Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Vấn đề xây bàn chấp cơ cầu Tiên năm đó là năm Ất Sửu 1925. Nhầm thời kỳ quý vị chánh trị gia Việt Nam ở Hải Ngoại trở về nước đứng lên cổ động giải phóng cho dân tộc bằng cách bạo động. Dân chúng trong nước có một phần xu hướng theo. Nhứt là Saigon và Chợ Lớn, sau nầy truyền bá khắp cả Việt Nam. Kẻ theo nhóm nầy người hướng về đầu khác, thường hợp nhau để đi diễn thuyết cổ động. Vì các lực lượng bạo động đó mà chánh quyền để ý dòm ngó ngăn ngừa. Còn có những người khác có tánh háo kỳ về tín ngưỡng nghe đâu có lập đàn cầu Tiên thì đến, xem coi cách cầu Tiên phải lập đàn thế nào đặng cầu được Tiên. Tiên xuống phàm dạy chuyện gì? Có thể hỏi thăm được Tiên về việc nước chăng. Vì tiếng đồn với nhau thiên hạ đến xem cầu Tiên càng ngày càng đông.

Trái lại khi đó quan Phủ Chiêu lại muốn êm tịnh, đặng có thì giờ tham thiền nhập định. Không khứng đi phổ độ mà dân chúng ồn ào như thế. Ông thường nói: "Ngô thân bất độ hà thân độ". Mình độ lấy mình biết trọn vẹn không, huống hồ gì đi độ ai. Nếu ai muốn tu Tiên thì từ từ đến nhà tư của ông. Ông sẽ chỉ cho cách thờ phượng để tâm tu niệm. Hơn nữa ông cho biết, nếu lập đàn cầu Tiên mà người tụ hợp đông quá thì mất vẻ tôn nghiêm, tất là khiếm lễ. Nếu khiếm lễ tôn trọng, vì đông người thì các Đấng Thiêng Liêng và Tiên Ông không giáng. Chí hướng của ông Phủ Ngô Minh Chiêu thì không muốn hội hợp đông người khi lập đàn, vì sợ mất sự an ninh trong đô thành. Quan Phủ Chiêu muốn giữ an ninh là sợ đám chánh trị gia trà trộn vào quấy phá. Vì ông là một vị công chức của chánh phủ nên muốn như vậy. Ấy là lẽ phải của ông đó, nên ông từ chối không chịu hợp tác với quý vị chức sắc Đại Thiên Phong đầu tiên cùng nhau đi phổ độ chúng sanh theo lời Chí Tôn đã dạy.

Trong đám Đại Thiên Phong có ông Thượng Nghị Viên Lê Văn Trung đứng đầu.

Lần lượt qua năm sau mới rõ biết danh hiệu "Cao Đài" tức là Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương. Lập thành Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong nước Việt Nam năm Bính Dần 1926. Truyền bá khắp nơi chẳng những toàn cõi Việt Nam mà còn rải rác nhiều nước ngoài, thâu nạp gần ba triệu tín đồ không phân biệt màu da sắc tóc, vì Đạo Cao Đài không có đối lập với tôn giáo nào cả.

Nhận xét:

Theo kinh nghiệm từ cổ chí kim những vật gì, chí hướng nào do con người tạo ra, phần nhiều vì thiếu đạo đức và thiếu thành thật mà phải thất bại, cho đến đạo lý nhơn luân, nên hư cũng do bản tâm đạo đức, hay tánh vô đạo của con người mà ra.

Lịch sử chứng minh đạo đức thắng tội ác. Sự thật thắng gian trá. Tình thương thắng oán thù. Đạo đức chính là một thứ võ khí lợi hại nhứt của chúng ta.

Vì vậy các vị Giáo Chủ giáng trần cố tìm phương pháp để thật hành đạo đức trong nhơn gian, các Đấng ấy đưa ra mỗi người một lý thuyết khác nhau, nhưng kỳ trung cũng đều là một lý thuyết cứu độ nhơn sanh bằng cách thật hành đạo đức. Vì hễ đạo đức được truyền khắp thế gian, thì những tội ác bạo ngược phải hết hoặc giảm bớt dần dần.

Soạn giả đã vạch rõ Đạo Cao Đài phát sanh do sự "xây bàn" trước, sau mới dùng đến cơ bút để lập thành mối đạo và truyền bá cho nhơn sanh, lập Pháp Chánh Truyền Tân Luật và Đạo Luật để làm hiến chế cho nền Đại Đạo, chức sắc, đạo hữu chỉ do đó mà thi hành, thì khỏi sai đường lạc lối. Tôn chỉ và giáo lý của Đạo đã do hiến chế nêu rõ.

Nói đến ba nhà chí sĩ ở đoạn đầu, là cố ý để nhận xét về cá tánh của mỗi người trong ba ông, vì có sự liên hệ đến cơ bút.

Ông thứ nhứt là Cao Quỳnh Cư sau đắc phong với chức Thượng Phẩm. Nhờ đức tánh cao thượng và kiên quyết nên hễ định làm việc gì thì cố gắng làm cho kỳ được. Bởi thế nên khi nhận chơn được mối đạo, thì ông nghe theo tiếng gọi Thiêng Liêng mà phế đời hành Đạo liền, mặc dù lúc đó, ông đang là một vị công chức của Chánh Phủ Pháp. Bạn đọc sẽ thấy rõ công nghiệp của ông trong Đạo Sử.

Ông thứ nhì là Phạm Công Tắc sau đắc phong Hộ Pháp, cũng có tánh cao thượng và hùng khí lại thương đời mến đạo, nên khi nhận rõ mối đạo cũng liền phế đời hành Đạo, ông cũng là công chức lúc ấy.

Ông thứ ba là Cao Hoài Sang sao đắc phong Thượng Sanh, cũng có tánh cao thượng và yêu đời mến đạo như hai ông kia, nhưng vì hoàn cảnh phải còn ở lại với chức vị của ông. Vì ông cũng là công chức. Tuy nhiên, ông cũng nghe theo tiếng gọi Thiêng Liêng mà hành Đạo trong những lúc rảnh rang. Ông rất dày công phổ độ lúc ban sơ.

Ba ông đều đắc vị Thiên Phong trước hết và đắc lịnh chấp cơ truyền Đạo, phổ độ chúng sanh. Hai ông Thượng Phẩm và Hộ Pháp hợp thành một cặp Đồng Tử chấp cơ phong Thánh, truyền giáo, lập Pháp Chánh Truyền và Tân Luật tức là hiến chương của nền Đại Đạo hiện giờ.

Chúng ta phải nhìn nhận đầu công của hai ông nầy vào bực nhứt, vì trước hết và trên hết, Đức Chí Tôn mượn tay và thần lực của hai ông mà lập thành Đại Đạo cho đến ngày nay. Nếu không có bàn tay xây dựng của hai ông thì đâu có Đại Đạo, đâu có chức sắc, đâu có đại nghiệp hiện giờ cho chúng sanh thừa hưởng.

Rủi thay, đang lúc cần người rường cột trong đạo, mà Đức Thượng Phẩm qui Thiên vị quá sớm, còn một mình Đức Hộ Pháp thiếu kẻ phụ cơ. Tuy nhiên Người vẫn tiếp tục việc đạo bằng đủ mọi cách để cho đại nghiệp Đạo được vững bền đồ sộ. Nhờ bàn tay linh động của Người mà cuộc kiến trúc Đền Thánh, Đền Thờ Phật Mẫu cùng các Tòa Dinh Thự khác được thực hiện rất mỹ mãn. Ngoài sự kinh dinh (*) ấy, Người và Hội Thánh còn khai thác được mấy ngàn mẫu đất, cất Long Hoa Thị, cắt đất phân lô trong vùng ngoại ô Thánh Địa.

Nhận xét về cơ bút thì trong năm khai đạo, chúng ta được thấy nhiều cặp phò cơ đắc phong chánh thức trong hàng Thập Nhị Thời Quân dưới quyền điều khiển của Tam Vị Chưởng Quản ba chi Hiệp Thiên Đài: Pháp, Đạo, Thế, mỗi chi có bốn vị: Bảo, Hiến, Khai, Tiếp. Cặp thứ nhứt là Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc, thứ nhì Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu.

Trong Thập Nhị Thời Quân:

Cặp thứ nhứt: Nguyễn Trung Hậu, Trương Hữu Đức. Thứ nhì: Trần Duy Nghĩa, Trương Văn Tràng. Thứ ba: Phạm Văn Tươi, Ca Minh Chương (ông nầy yếu lắm ngồi lâu không được, thường ông Đãi phải vào nâng cơ thay thế). Thứ tư: Phạm Tấn Đãi, Nguyễn Thiên Kim. Hai cặp cơ sau nầy chỉ có một mình Đãi (tức là Phạm Tấn Đãi) sau đắc phong Khai Đạo là Đồng Tử bên tích cực, nên chấp bút được có huyền diệu khi Đạo mới phôi thai.

Còn ba ông Mai, Nguyên, Kim không đến hầu đàn phong Thánh tại Chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén) nên có ba ông khác thế vào và đắc phong trong Thập Nhị Thời Quân. Ba người ấy là Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh, Khai Thế Thái Văn Thâu, Tiếp Đạo Cao Đức Trọng.

Qua năm 1928 ông Bảo Đạo Ca Minh Chương qui liễu ở tại làng Mỹ Lộc, Cần Giuộc. Đạo buổi phôi thai cần có đông người chấp cơ đặng đi phổ độ. Nhưng bốn vị Thời Quân thuộc chi Thế thì chấp cơ không viết được. Mấy ông nầy rán tập, bền chí, kiên tâm tập luyện mỗi bửa đến nửa đêm trải qua thời gian ba tháng mà tập không viết ra chữ được, nên tạm ngưng nghỉ tập. Sau cầu hỏi lại các Đấng Thiêng Liêng nguyên do nào mà quý vị Thời Quân Chi Thế tập chấp cơ viết không ra chữ. Một Đấng Thiêng Liêng cho biết. Lúc Đạo mới phôi thai ai ai cũng muốn tìm học hỏi về đạo đức, hoặc bí pháp chơn truyền mà mấy vị nầy là chi Thế, nếu ban ơn cho viết được, họ tuông ra đồ thê sự thì làm sao đạo thi hành, hơn nữa mất uy tín, vì thế mà chi Đạo, chi Pháp ai ai cũng chấp cơ viết được, còn chi Thế chấp cơ viết không được. Có được là khi một vị chi Thế chấp cơ với một vị chi Đạo hoặc chi Pháp mới viết được. Nhưng hai vị của hai chi nầy phải là đồng tử tích cực mới viết được. Chúng ta nên nhận định và biết qua khiếu đồng tử của mỗi vị phò loan.

Khiếu của đồng tử ngồi chấp cơ hai bên cũng như dây điện, bên nóng (positif) bên nguội (négatif), bên nóng là bên tích cực, bên nguội là bên tiêu cực. Bên tích cực mới có thể phát sanh văn tự, còn bên tiêu cực thì nâng cơ trợ điễn mà thôi. Vậy làm sao phân biệt được bên nào tích cực bên nào tiêu cực? Đây thuộc về vấn đề tâm lý mà nhờ sự kinh nghiệm lâu ta có thể nhận rõ cơ bút viết ra hay dở, cao thấp huyền năng đều do bên tích cực. Nếu có tự kỷ ám thị (autosuggestion) thì cũng do bên tích cực mà có. Mấy vị đồng tử tích cực có thể chấp cơ với các vị đồng tử tích cực khác được là biết nhường điễn nhau thủ vai trò tiêu cực để nâng cơ trợ điễn cho bên kia viết. Còn trái lại đồng tử tiêu cực chấp cơ với đồng tử tiêu cực thì viết không được bất câu là chi nào.

Cũng do sự kinh nghiệm và sự hiểu rõ tâm lý mà ta có thể phân tích trong mấy cặp phò loan do cơ bút chỉ định trong nền Đại Đạo như trên để phân biệt ai là đồng tử bên tích cực. Cặp cơ thứ nhứt ông Cao Quỳnh Cư và ông Phạm Công Tắc. Chí Tôn ban ân huệ đặc biệt đầy đủ điễn lực cả hai ông đều là đồng tử tích cực. Nhưng ông Phạm Công Tắc nhường điễn tích cực cho ông Cao Quỳnh Cư để thủ vai tuồng tiêu cực đặng trợ điễn để chấp cơ buổi ban đầu khai đạo.

Khi Đức Thượng Phẩm qui Tiên rồi, sau nầy Đức Hộ Pháp tự chấp bút học hỏi đạo lý với các Đấng Thiêng Liêng. Còn chấp cơ thì với ai cũng được kết quả vì đồng tử tích cực. Cặp thứ nhì Diêu Sang, cũng nhận định được bên Sang là tích cực. Cặp thứ ba Hậu Đức, bên Đức là tích cực. Cặp thứ tư Nghĩa Tràng, bên Nghĩa là tích cực. Cặp thứ năm Tươi Chương bên Chương là tích cực, nhưng già yếu cầm cơ ngồi lâu không nổi Đãi phải vào thay thế. Cặp thứ sáu Đãi Kim bên Đãi là tích cực. Nhận xét mà hiểu được khiếu đồng tử ta mới thấy rõ Đức Hộ Pháp là một chơn linh siêu việt mới đủ năng lực xây dựng nền Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, tạo tác Tổ Đình đồ sộ với nhiều sự nghiệp bất hủ không ai còn phủ nhận được. Việc cơ bút trong Đạo, Người đáng kể là sư tổ.

Soạn giả sưu tầm sử liệu nhận xét thấy Đức Chí Tôn đã dạy:

Bố hóa người đời gây mối Ðạo,
Gia ân đồ đệ dựng nền nhân.

Còn Đức Lý Giáo Tông chỉ dẫn cho hai câu liễn khắc hai bên cửa cổng:

Cao thượng Chí Tôn Ðại Ðạo hòa bình dân chủ mục.
Ðài tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền.

Đạo Sử phân ra nhiều quyển để ấn tống tiếp theo. Bổn Đạo Sử in lần thứ nhứt nầy soạn giả viết kể từ hồi mới bắt đầu xây bàn đến khi trả chùa Từ Lâm Tự (Gò Kén) lại cho Hòa Thượng Như Nhãn (Giác Hải).

Hội Thánh mua một khu rừng khác một trăm bốn chục mẫu - 140 mẫu (tháng 2 năm 1927) tọa lạc tại làng Long Thành, khai phá tạm cất một ngôi Thánh Thất, sau kiến trúc một Đền Thánh đồ sộ đến ngày nay.

Chính Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế khai sáng Đạo Cao Đài, tức là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Thánh Thể do Đấng Chí Tôn Thượng Đế sắc phong, gọi Hội Thánh Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài lập tại Tòa Thánh Tây Ninh (mới đầy đủ pháp lý) đối với Cõi Trời Cõi Trần hợp lại mới đúng là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, đúng với lời dạy của Đức Chí Tôn "Chi chi cũng do nơi Tòa Thánh Tây Ninh".

Tòa Thánh Tây Ninh 01 tháng 02 Ất Mão
(dl. 13/03/1975)

Khai Đạo Hiệp Thiên Đài
Kiêm Trưởng Ban soạn Đạo Sử

Bần Sĩ Phạm Tấn Đãi

 

GHI CHÚ

(*) Nguyên bản gốc tài liệu: kinh danh.

Kinh dinh: kinh doanh, trù liệu công việc phát họa đường lối: Kinh dinh cơ sở. Mở mang to rộng làm ăn lớn: Có óc kinh dinh.

 

Hiệu đính theo chánh tả hiện hành: Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ do nhà sách Khai Trí xuất bản tháng 4 năm 1970.◙

 

Bản in PDF file: 19750313-DaoSu_KhaiDao-HTD(v2021).pdf

 

 

 


 

 


TẠI SAO TA THỜ ĐỨC THƯỢNG ĐẾ
BẰNG THÁNH TƯỢNG THIÊN NHÃN
TẠI SAO CHỈ THỜ MỘT THIÊN NHÃN THÔI

 

Tại sao ta thờ Đức Thượng Đế bằng Thánh tượng Thiên Nhãn.

Đức Thượng Đế là Đấng toàn năng, toàn tri, vô cùng siêu việt, trí phàm không thể tưởng tượng được cái tinh thể ra sao, nhưng chúng ta tin tưởng Ngài, thì chủ lấy cái động thể của Ngài mà căn cứ cho sự tin tưởng của ta.

Đạo tuy vô hình nhưng phải tạo ra hữu vật để phô bày cái dụng mà thiệt hành cái thể.

Về hình thức Thánh Thượng Thiên Nhãn chỉ là một biểu hiện tôn kính, một tượng trưng tôn giáo thôi.

Nhưng xét về tinh thần, thì lại có nhiều ý nghĩa sâu xa.

Trong Thánh Huấn ngày 25 tháng 2 năm 1926 Đức Chí Tôn giáng cơ dạy rằng:

"... Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh Tượng "Con Mắt" mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh.

Nhãn thị chủ tâm,
Lưỡng quang chủ tể,
Quang thị Thần,
Thần thị Thiên,
Thiên giả, Ngã giả.

"Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Đạo bị bế. Lập Tam Kỳ Phổ Độ nầy, duy Thầy cho "Thần" hiệp "Tinh-Khí" đặng hiệp đủ "Tam Bửu" là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh.

"... Phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật, từ ngày bị bế Đạo, thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên Đình mỗi phen đánh tản Thần không cho hiệp cùng Tinh Khí.

"Thầy đến đặng huờn nguyên chơn thần cho các con đắc Đạo. Con hiểu "Thần cư tại Nhãn". Bố trí cho chư đạo hữu con hiểu rõ. Nguồn cội Tiên Phật do yếu nhiệm là tại đó. Thầy khuyên con mỗi phen nói Đạo, hằng nhớ đến danh Thầy".

Vả chăng, con mắt là chủ thị quan, tức là biểu hiện sự quan sát cái tâm thức của mình cho thiệt tinh vi, đặng lo đoạn tuyệt tam nghiệp, lục căn mà trở về nguyên bổn.

Lại nữa, hồi Nhất Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn giáng sanh lập Đạo lại mang lấy xác phàm, nên phải thờ Người bằng cốt Tượng, Tam Kỳ Phổ Độ Đức Chí Tôn chỉ dùng huyền điệu cơ bút mà dựng nên chánh giáo, ấy là một cuộc bán hữu hình, nên thờ Đức Chí Tôn bằng Thiên Nhãn, cũng là cách thờ phượng bán hữu hình đó vậy.

 

Tại sao chỉ thờ một Thiên Nhãn thôi?

Chúng ta thờ Thượng Đế bằng con Mắt phía tả vì tả thuộc Dương mà Đức Thượng Đế chủ về Chơn Dương hay Thái Dương, cũng như Đức Diêu Trì Kim Mẫu chủ về Chơn Âm hay Thái Âm.

Thờ một Thiên Nhãn vì Một là tuyệt đối, Một là duy nhất có nghĩa là: Chơn lý vốn Một thôi, đời đời kiếp kiếp con người cứ do một lẽ “Thiên lý lưu hành” là Tôn chỉ bất di bất dịch.

Chủ đích của Đại Đạo là gồm các tôn giáo về Một, vứt bỏ những tin tưởng ở chỗ tiểu dị mà chú trọng ở chỗ tín ngưỡng đại đồng mới biết nhìn nhận, nguồn cội của Vũ Trụ là cái bổn thể độc Nhất vô nhị của Đạo, tức Đấng Tạo Hóa.

Vả lại, chỗ lập thuyết của Tam Giáo đều căn cứ ở số Một ấy.

- Đạo Phật thì “Vạn pháp qui Nhất” nghĩa là muôn phép đều gom về Một.

- Đạo Tiên thì “Bảo nguơn thủ Nhứt” nghĩa là giữ Nguơn khí cho đặng Một.

- Đạo Nho thì “Duy tinh duy Nhứt” nghĩa là học Đạo lý cho tinh giữ tâm chí cho đặng Một.

Xem thế đủ biết Tam Giáo đều chỉ Một chơn lý mà thôi. Vậy thờ Một Thiên Nhãn là tượng trưng cái số Một ấy.

 

Trích từ Đại Đạo Học Đường tài liệu Huấn luyện Chức sắc phẩm Giáo Hữu khóa Mậu Tuất 1958. bài 12 & 13.◙

 

 

 

 

 

 

Cậy kẻ dạy con cũng lẽ thường,
Cho roi cho vọt mới là thương.
Nhơn tình ví chẳng mưu thâu phục,
Thế giới mong chi phép độ lường.
Nhỏ dạy Thầy nuôi mùi Ðạo hạnh,
Lớn khôn bây xứng mặt hiền lương.
Vinh hoa phẩm cũ ngôi xưa đó,
Khổ cực các con chớ bỏ trường.

Trích từ: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Q.2 Thi văn dạy đạo.◙

 

 

 

 

 

 


 


 

 


HẦM BÁT QUÁI

 

Phần dưới của 12 cấp Bát Quái Đài, tức là thuộc phần nền của Bát Quái Đài, có đào một cái hầm lớn, được xây cất kiên cố theo hình Bát Quái, có thông hơi và có nắp đậy chắc chắn, có cầu thang đi xuống, gọi là Hầm Bát Quái.

Hầm Bát Quái được dùng làm nơi cất giữ tro thiêu hài cốt của các Chức sắc Đại Thiên Phong từ hàng Tiên vị trở lên, tức là từ phẩm Đầu Sư hay tương đương trở lên. Hài cốt nầy đặt trong liên đài, được lấy ra từ các bửu tháp, đem làm lễ hỏa thiêu tại Cửu Trùng Thiên nơi Đại Đồng Xã trước Tòa Thánh, lấy tro đựng vào thố, bên ngoài có ghi rõ phẩm tước, Thánh danh, năm sanh năm tử, và ngày hỏa thiêu, để lưu truyền kỷ niệm về sau.

Trong đám tang Ngài Bảo Đạo Ca Minh Chương (đăng Tiên ngày 19-10-Đinh Mão, dl 13-11-1927), Đức Chí Tôn dạy Đức Phạm Hộ Pháp như sau :

"Thầy cũng nhắc lại với con rằng: Đủ 3 năm phải thiêu hài cốt, lên tượng, đặng đem nó vào Bát Quái Đài nghe! Nơi mộ nó phải để quan tài khỏi mặt đất một tấc mà xây tháp y như lời Thầy đã dặn. Trên mặt tháp để chữ vàng "Bảo Đạo Chơn Quân", nhớ à!" (Trích trong Đạo Sử II trang 314 của Bà Nữ Đầu Sư Nguyễn Hương Hiếu).

Trong Hầm Bát Quái hiện nay có đặt 6 cái thố đựng tro thiêu hài cốt của 6 vị Chức sắc Đại Thiên phong đã đăng Tiên, kể ra sau đây :

* Ngày 15-1-Ất Mùi (dl 7-2-1955), Đức Hộ Pháp đứng chủ lễ hỏa thiêu tại đài Cửu Trùng Thiên nơi Đại Đồng Xã trước Tòa Thánh, hài cốt của 4 vị :

- Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung.
- Nữ Đầu Sư Hương Thanh.
- Ngọc Đầu Sư Ngọc Trang Thanh.
- Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư.

* Ngày 17-8-Bính Thìn (dl 10-9-1976), Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa tổ chức lễ hỏa thiêu hài cốt của 4 vị :

- Bảo Đạo Ca Minh Chương.
- Đầu Sư Thái Thơ Thanh.
- Tiếp Đạo Cao Đức Trọng. (1)
- Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu. (2)

(1) và (2) : Hai vị nầy chưa có thố đựng tro thiêu đặt nơi Hầm Bát Quái.(?)

 

Trích từ GIỚI THIỆU TÒA THÁNH TÂY NINH
do Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng biên soạn (02-2003).◙

 

 

 


 

 


 

VÀI NÉT SINH HOẠT ĐẠO SỰ CỦA TỘC ĐẠO SYDNEY

 

Chư Hiền thương mến,

Từ Tết Tân Sửu, tại Thánh Thất NSW và Điện Thờ Phật Mẫu, đồng đạo vẫn thận trọng đến kỉnh lễ Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu và chư Thiêng Liêng tương đối không quá nghiêm ngặt, miễn giữ đúng luật lệ về dãn cách và vệ sinh cá nhân cẩn thận. Bấy giờ, tình trạng Covid-19 tại Tiểu Bang NSW còn tạm ổn, ngoại trừ vài vùng ngoại ô bị lây nhiễm có thể khống chế lần hồi.

Các lễ Vía, Sóc Vọng, Kỷ niệm chư Tiền Khai được đồng đạo và Chức Việc các Bàn Trị Sự đến dự cúng khá nghiêm trang và thành kỉnh. Việc cúng thời cũng được Chức Việc và Đạo Hữu Tâm ngụ tại Thánh Thất giữ cúng từ một đến hai thời mỗi ngày. Ngoài ra, CTS Thu Lan đã trình Tộc Đạo để mở khóa Tập Đọc Kinh và gõ nhịp để hướng đẫn các bạn đạo như Mai Hạnh, Ngọc Thủy, Ánh Nguyệt, Yến Mai và Duyên.

Còn việc trùng tu Thánh Thất phải tạm chờ đợi hãng xưởng nhập khẩu và cung cấp vật liệu từ nước ngoài. Trong khi chờ đợi, chẳng lẽ ngồi chờ, Công vụ Lý Tú Kỳ, CTS Bình, CTS Điệp, PTS Phước, TS Nhân, ĐH Xuân, ĐH Tâm sơn vòm trần Bửu Điện, Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Thiên Nhãn, cặp rồng, các lan can (handrails), v.v… ĐH Xuân và Yến Mai hiến tủ kệ mới để chứa vật dụng cúng kiếng. Dĩ nhiên, việc ẩm thực là khâu không thể thiếu do các bàn tay khéo léo và chu đáo của phái nữ như CTS Thu Lan, PTS Tuyền, TS Mai Hạnh, TS Ngọc Thủy và TS Yến Mai . . .

Mấy tháng gần đây, từ khi một du khách đi ngoại quốc về, mang biến thể Covid-19 Delta đến Sydney. Cư dân NSW phải khá chật vật ứng phó với nhiều ca lây nhiễm càng ngày càng tăng vượt mức. Biện pháp “bế môn” bị siết chặt hơn về di chuyển, hội họp, nói chung những nơi cần hạn chế số người tham dự. Trong đó, các nơi thờ tự của các tôn giáo không ngoại lệ. Đồng đạo không được rời nơi cư trú quá 5 cây số. Đến nỗi CTS Lý Tú Bình, Đầu Hương Đạo Đường Nhơn không thể đến trực Thánh Thất làm phận sự. Đổi lại CTS Bình, sau khi đi làm về, vẫn ở nhà làm công quả đắp phù điêu “Cân Công Bình”. May mà CTS Trần Ngọc Điệp thuộc Hương Đạo sở tại (Bankstown-Canterbury) đã tự nguyện lãnh trách nhiệm chăm sóc hoa quả cho các bàn thờ, thay cho Hương trực Đường Nhơn, cách Thánh Thất trên 15 cây số.

Tuy nhiên, khi có tang tế sự, CTS kiêm Lễ Vụ Điệp đã tham vấn các Ban điều hành Nhà Quàn và cố gắng tổ chức tang lễ một cách chu đáo, nhằm xoa dịu nỗi đau buồn của tang gia mà vong linh cũng hưởng được những lời Kinh tiếng kệ hầu trở về cõi vĩnh hằng siêu sanh nhàn lạc. Đồng thời, Hiền Huynh Q.Đầu Tộc và Lễ Vụ cũng đã hành lễ tại Thánh Thất và hướng dẫn tang gia hiếu quyến giữ đúng nghi thức cúng Cầu Siêu hoặc Tuần Cửu tại tư gia, theo lịch trình đã phác thảo.

Covid-19 kéo dài thời gian hơn một năm rưởi qua, lúc nổi lúc lặn, khiến đồng đạo nhớ đến Thiên Bàn, nhớ nghe lời Kinh, nhớ lời thuyết Đạo, nên đề nghị tổ chức cúng online. Theo đó, Tộc Đạo và Lễ Vụ đã lập nhóm “Tộc Đạo Sydney” với khoảng 12 thành viên tham dự trên Viber, gồm Hành Chánh và Phước Thiện, thực hiện được hai lần. Dầu chưa hoàn hảo, nhưng cũng học được chút kinh nghiệm.

Nhân mùa Trung Ngươn, chúng ta hãy cầu xin Ơn Trên tha thứ tội tình cho cả chúng sanh thoát ly khổ nạn. Chúng tôi mong mỏi Đại dịch sớm chấm dứt, để mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Hy vọng loài người sớm giác ngộ và chấm dứt việc tạo khổ cho nhau, tức nhiên tự chuốc khổ cho chính mình.

Kính chúc Chư Hiền đủ đầy sức khỏe và an lạc.

Thanh Nguyên

 

 


 


         
 

HỌA PHƯỚC VÔ MÔN

   
 

Họa phước vô môn sách luận rành,
Cũng như hình bước bóng theo nhanh.
Bởi ham chứa ác mang tai biến,
Hễ biết gieo nhân gặt quả lành.
May rủi gắng gìn tâm thánh đức,
Trả vay tùy ở kiếp nhơn sanh.
Trước TÒA PHÁN XÉT tầm nguyên lý,
Vạn sự chung qui tại sở hành.

 
   

HUỆ PHONG

   
 

Trích từ THÔNG TIN số 86 trang 06. Do Cơ Quan Phát Thanh Phổ Thông Giáo Lý - Tòa Thánh Tây Ninh phát hành ngày 25 tháng 9 Quí Sửu (Dl. 20/10/1973).

 
         
 

ĐƯỜNG TRẦN TÂM ĐẠO
HOÀI NIỆM CẢI TRẠNG NGUYỄN MINH NHỰT

1926-2020

   

 

Lá Thu lìa khỏi cõi trần,

Thuyền Linh đưa bạn, Chơn thần huờn nguyên.

 

Pháp Chánh, một đời giữ chánh công,
Chơn tâm Minh Nhựt chẳng thay lòng.
Hiệp Thiên, Người bước bên dòng sử,
Di sản chí hiền thanh khiết trong.
Tịch Đạo Thanh Hương, mong gởi phận,
Trường Tu trực tánh, nghĩa nhân trồng.
Duyên may tri ngộ trên đường Đạo,
Xin gởi chút tình lắm đợi trông!

   

Thảo Vân Trang mùa Thu u tịch, 01-04-2020

Ái Nhân cẩn bút

Trở về nguồn cội thiêng liêng ngày 24-2-Canh Tý (DL, 17-03-2020) tại tư gia ngoại ô Tòa Thánh Tây Ninh.

         
 

NGHĨA THẦY TRÒ

   
 

 

Khổ Hiền tri ngộ kiếp nào?

Thuyền tâm ngược sóng Hạ vào cảnh Thu.

 

Vầng nguyệt khuyết,
Gió Thu đưa.
Chạnh nhớ,
Nguồn xưa!

 

Làm Thầy thật khó phải không nào?
Đâu phải dạy người! Hỏi tại sao?
Chữ nghĩa truyền chơn theo lẽ thật,
Chỉ là gợi ý gởi đời sau.
Người đi bước trước trông người nhỏ,
Đường Đạo cửa tu chỉ một màu.
Thu đến bóng chiều năm tháng ngắn,
Thời gian gió bụi chóng qua mau.

 
 

Thảo Vân Trang đầu mùa Thu, đêm 01-03-2020

Ái Nhân

 
         
   

MỘT MẢNH THUYỀN TÂM

 
   

 

Mùa Thu u tịch con thuyền,

Đi qua cuối nẻo nơi miền trần ai.

 

Lực đẩy cái Nhân cộng nghiệp mình,
Qua từng kiếp chuyển của chơn linh.
Rõ là bài học từ nhân quả,
Sáng, tối, phận ai ráng giữ gìn.
Di sản kiếp nầy nhìn thấy được,
Mở trang kịch bản kiếp lai sinh.
Cộng trừ, bài toán vô cùng khó,
Trí Huệ đoạn căn thấy quả mình.

 

Quả hiền hay dữ bước tu hành,
Người Đạo mở lòng độ chúng sanh.
Đen trắng gởi theo làn gió bụi,
Cửa Tu duy có một tâm thành.
Giúp người cần giúp, ơn đời trả,
Truyền đạt điều lành, trí não thanh,
Ngọn bút thương yêu thuyền tận độ,
Văn chương chơn thật nghĩa tu hành.

   

Thảo Vân Trang mùa Thu xứ Úc, 02-04-2020

Ái Nhân

         

 


 

 

TRẦN KIỀU BÓNG XẾ


Ái Nhân

 

LỜI CỦA NGƯỜI VIẾT:

Đi cho hết chặng đường trần,
Thấy ra lẽ thật đặng gần cảnh chơn.

Là bài viết vào ngày đầu mùa Đông của năm năm về trước. Người hành giả đi tìm sự chơn thật của cảnh giả-chơn trong một bức tranh gió bụi kiếp trần.

Bức tranh đó là mảnh đời của các chơn linh đi theo từng gốc cạnh xã hội đổi thay ảo hóa khôn lường.

Sự ảo hóa không dễ nhận ra trong một xác phàm trần tục. Mà lực đấu tranh gay go nhất giữa Thánh tâm và phàm tánh. Chơn thần xác thân thiêng liêng phải lựa chọn đôi ngã chia phân.

Đi theo chơn linh tức là điểm linh quang của Thầy ban cho, người đời thường gọi là lương tâm đó vậy!

Hoặc đi theo xác thân phàm tánh, chịu trong vòng nghiệp lực trả vay ganh ghét thù hận đọa đày.

Xin mời Khách đường xa đi vào rừng văn phong chữ nghĩa xem bức tranh gió bụi TRẦN KIỀU BÓNG XẾ.

Mở trang giấy cũ năm xưa:

Thảo Vân Trang mùa Đông, ngày 22-07-2021

Ái Nhân

 


 

Mây chiều giăng đảnh hơi sương,
Qua bao bước tục thuyền nương sóng trần...

"Ôi! Bể cả mênh mông, lòng ta mênh mông, thì buồn vui làm sao vào được cõi lòng."

Ái Nhân

Tìm chơn nguồn Đạo cả,

Mở rộng cõi lòng ta.

Thấy từng vi sinh vật,

Sống chết thoáng đi qua.

Rằng đó,

Chuyện đời...

Vạn vật đáng yêu, non nước mây trời, cỏ cây hoa lá một màu thương yêu lạ thường, sự thương yêu trong khối tình Thánh Đức mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho vạn loài. Trong khối thương yêu đó! Con người là một điểm chơn linh, đến nơi cõi thế sống trong một môi trường đầy hổn độn sinh động. Dưỡng dục lớn lên trong thế giới cộng sinh phải đi trong cảnh giả để tìm sự chơn thật. Đó là con đường tấn hóa của vạn linh, mà mỗi một chơn linh đều phải đi tới học hỏi, để trở về nguồn cội của mình.

Chuyện đời hư thật áng mây bay,
Công việc áo cơm của mỗi ngày...

Một gốc trời sâu thẳm, một không gian vô tận. Lữ khách phong trần có những lúc rồi phải dừng chân, nhìn dòng sinh mệnh trôi qua bên cầu trần khổ. Sao gọi là trần khổ? Sanh ra nơi thế gian nầy không một ai bước ra ngoài vòng chén cơm manh áo, dù là nhà tu hay người phàm tục. Bởi nó là đời sống của mỗi sinh vật chịu trong vòng nghiệp lực trả vay duyên nghiệp. Đời sống con người vẫn có những điều đáng yêu kia mà. Lạ thật! Vì đó là giọt lệ của một kiếp người trong nỗi niềm buồn vui trần tục. Vì đó là cảm xúc của kiếp sanh ly trong tấm thân cát bụi, đến rồi lại đi, đi về một phương trời vô tận...

Được mất bóng câu đường viễn mộng,
Rừng Thu hiu hắt lá vàng thay...

Dòng đời cứ thế qua mau, cuốn theo chiếc lá vàng rơi với bóng chiều hiu hắt. Đi tìm sự chơn thật tận cõi lòng sâu thẳm của mình, để sống cuộc đời thiện lương đáng sống. Sống chơn thật trong từng hơi thở, sống chơn thật trong một thế giới cộng sinh, với từng vi sinh vật trong một cơ thể hữu vi. Đó chính là một phần trong cuộc sống của kiếp nhân sinh. Cố gắng học làm người lương thiện, cố gắng mở cõi lòng vị tha thương yêu vạn vật. Bởi sự thương yêu là nguồn Đức Chí Linh, là cội nguồn của vạn linh tấn hóa.

Trải tâm thương cả vạn linh,
Sống trong Thánh chất khối tình Tạo Đoan...

Sự lựa chọn giữa đôi bờ sanh tử, giữa lợi ích bản thân và lương tâm trong một kiếp trần. Điều gì được mất hơn thua, điều gì thỏa mãn mong cầu. Đó chẳng qua là cái bóng dưới chân, là ánh trăng qua cửa, chợt thấy đó rồi lại mất đó theo gió bụi thời gian, hạt bụi bay đi rơi vào lòng đất lạnh.

Đường Tu lưu di sản,
Tạo nghiệp cõi thiêng liêng...

Bởi mỗi kịch bản của mỗi con người, là do cộng nghiệp của nhiều ngàn năm lưu lại, từ nơi gánh nợ xã hội, từ nơi gánh nợ nhân luân, mà mỗi chơn linh đã vay mượn trên đoạn đường gió bụi.

Dầu trên vai có mang áo Đời hay áo Đạo, cứ mỗi một lần tái sinh là tạo một di sản của bài toán cộng trừ nghiệp duyên nhân quả. Con đường đi đó dầu cho có lắm nỗi đau thương, đều do ta lựa chọn viết trong kịch bản của mình. Không ai quyết định vở kịch của ta cho ta, mà do ở nơi chính ta đã định đoạt cho kiếp sanh của ta đó vậy.

Hãy suy nghĩ quyền tự chủ và phải đổi thay để ngày một tốt đẹp hơn trên con đường tấn hóa thiêng liêng vô tận. Mỗi một kiếp sanh là một bước Tu chơn lương thiện Thánh Đức.

Kiếp sanh là một chặng đường chuyển kiếp tri khổ nghiệp chướng. Để rồi đi về một phương trời xa thẳm vô tận, cội nguồn từ buổi ban đầu. Điều gì lại xảy ra cho ta ở quãng đường trần tục đó! Nhìn lại bước chân vô định...

Cha Mẹ đi rồi con ở đây
Bao năm Xuân đến lệ Xuân đầy...

Tình cảm hai đấng sanh thành, không bút mực nào diễn tả cho hết được cái công ơn dưỡng dục bao la như Trời đất. Cha Mẹ sinh ra ta, là người mà ta đã vay mượn giọt máu mủ của tổ phụ ông bà. Giọt máu tạo dựng mảnh hình hài nhục thể, lưu lại chuỗi di truyền mà ta đã viết trong kịch bản của mình trước khi đầu kiếp, chuỗi di truyền sẽ đi theo ta suốt cuộc hành trình gian khổ giữa lượn sóng trần. Nhìn lại sức khỏe đau bịnh của ta, ngoài cái cách ta sống hằng ngày, phần còn lại là do chuỗi di truyền có ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống đau bịnh của ta đó vậy.

Giọt lệ chung ly tình thủ túc,
Thấm lòng đất Mẹ thấm Trời xanh...

Anh em là người cùng chung câu huyết nhục, cái tình cảm ruột thịt, đã làm cho ta phải đổ bao giọt lệ chia ly với đôi nẻo âm dương cách biệt. Hồi ức của tuổi thơ chia nhau chén cơm manh áo, dắt nhau đi trên con đường làng vẫn là một hồi ức tuyệt đẹp khó quên. Cũng có những câu chuyện huyết nhục tương tàn, để tranh nhau từng chén cơm manh áo. Nhằm thỏa mãn cho đời sống của riêng mình, nên mới đi ra ngoài cái lý lẽ lương thiện nhân quả. Cũng có khi bởi do oan nghiệp ở những kiếp xa xưa, hay là do ta tự gieo mầm cho kịch bản ở kiếp tương lai, đi trong vòng trả vay vô tận.

Cũng bởi chung nhau duyên số cũ,
Bởi câu máu mủ nghĩ mà hay...

Vợ chồng, con cái, là sợi dây duyên nghiệp ở những kiếp xa xưa. Biết bao lần làm cho lòng ta quặn đau khó tả, tâm tư ta nặng trĩu một gánh ưu phiền. Điều gì làm cho ta buồn vui lẫn lộn, có những lúc miệng thì ừ mà lòng không thuận, có những khi lòng thì thuận miệng lại chối từ. Thôi thì ta vui trong niềm quí trọng lẫn nhau. Có thương thì phải thương tất cả di sản mà người ta thương đã có. Bởi lẽ mỗi di sản đều có cái tốt cái sấu của nó, được hình thành từ bao tiền kiếp xa xưa, trên con đường tấn hóa của mỗi chơn linh.

Có duyên mà không phận thì khó đi cùng nhau cho hết chặng đường. Đừng cột nhau trong nghịch cảnh khổ đau, sẽ là một thảm cảnh đọa đày.

Bằng hữu là những khách duyên may tao ngộ bất chợt trên bước đường trần. Có khi là một người bạn tâm giao tạo niềm cảm hứng cho nhau, tìm về sự chơn thật thiện lương nơi cõi lòng sâu thẳm. Dù chỉ bất chợt biết nhau trên vạn nẻo đường trần gió bụi.

Tất cả những hình ảnh đó là một đoạn phim ngắn ngủi trong một chặng đường của kiếp sanh ly. Để rồi đến một lúc nào đó ta lại dừng chân bên cầu trần khổ, tìm về một gốc trời cô tịch, một thế giới riêng ta cô quạnh trên bước đường chiều. Nỗi cô tịch tĩnh lặng mặc khải huyền chân sống trong cảnh trời bát ngát.

Rừng xanh tĩnh mịch chim về tổ,
Núi thẳm trăng thanh nghỉ giấc nồng...

Có phải sự đời như dòng nước chảy, cứ chảy mãi không ngừng, để rồi đổ ra bể cả mênh mông. Ôi! Bể cả mênh mông, lòng ta mênh mông, thì buồn vui làm sao vào được cõi lòng. Cảnh chợ đời như áng mây trôi, trôi đi mãi đến một phương trời vô định. Tuồng đời như gió thoảng bên tai, hai lẽ trắng đen như đường mây bạc bên dòng đời sâu thẳm, tĩnh mịch như tợ ngàn xưa vũ trụ đã hình thành.

Dấu chân nhơn loại là một vết bụi trần mờ nhạt, như những ký sinh trên bờ mặt trái đất. Đến đó rồi lại tan biến ra đi, đi mãi trên bước hành trình tấn hóa vô tận. Cái không cùng không tận mà vạn linh đồng bước, kẻ trước người sau trên đường hằng sống.

Được mất bóng câu đường viễn mộng,
Rừng Thu hiu hắt lá vàng thay...

Nỗi khổ đau, sự vui sướng, chỉ là bề mặt của tuồng đời phô diễn. Bước ra ngoài cái giả tướng buồn vui được mất, khi cuộc chơi đã tàn chỉ còn lại một khung trời cô quạnh. Nỗi cô quạnh đìu hiu để rồi ta lại đối diện với ta, tìm lại lẽ chơn thật nơi tận cõi lòng sâu thẳm của mình. Bỏ lại dấu chân mờ nhạt trên bước đường chiều nắng ấm hương Xuân. Một thoáng qua nhanh, gió Thu đưa chiếc lá vàng về cõi trời Đông giá lạnh.

Trời đất thiên nhiên ôm vạn vật,
Gói trong cát bụi khối tình Hay...

Ôi! Đẹp làm sao cái cảnh Trời đất thiên nhiên ôm cả vạn vật gói vào trong cát bụi, làm một khối tình tuyệt đẹp thoát trần.

Tầm Chơn đạt Đạo diệu huyền,
Vào trong khối Đức đồng nguyên đất Trời...

Thảo Vân Trang mùa Đông ngày 01-06-2016

Ái Nhân

 

 

 

BÓNG HẠC VỀ ĐÂU?

 

Nhìn ra kịch bản Xuân nào?

Trăm năm vân mộng một màu cảnh Thu.

 

Cái nôi ngày cũ,
Của một dòng sông.
Tình mênh mông...
Hoài ân.

Hạc về đảnh Thánh cảnh còn đây,
Ân đức Mẹ Cha cả kiếp nầy!
Khó trả một đời công dưỡng dục,
Tình thâm nghĩa trọng chín tầng mây.
Quán trần vạn dặm ngày trông đợi,
Tiếng nhạn đêm khuya gọi lạc bầy!
Thuở nhỏ câu Kinh gieo trí não,
Con đường sanh tử mãi vần xây.

Thảo Vân Trang ngày 27 tháng 3 năm Canh Tý

Mùa Thu u tịch Miệt Dưới, 19-04-2020

Ái Nhân

 

 

 

 


 

 

ĐỐI DIỆN TRƯỚC THÁCH THỨC

ĐẠI DỊCH COVID-19


Mộc Lan

Đã 2 mùa đại dịch diễn ra trên toàn thế giới, Có người cho là cơ sàn lọc trong cuộc tận thế lần thứ ba. Vì thế, ai cũng lo mình sẽ bị vướng. Rồi ngồi buồn chán cuộn tròn trong nổi sợ hãi.

Đã hiểu lẽ “Thiên Số dĩ định”, nhưng ít ai chịu mặc nhiên chấp nhận.

“Thay vì ngồi cuộn tròn trong sự sợ hãi, sao mình không nghĩ ra, phải làm một việc gì cho hữu ích?” tôi tự hỏi. Câu hỏi đó chính là động lực thôi thúc Mộc Lan đứng dậy tìm ra phương hướng.

Đó là tạo ra đồng tiền để giúp đỡ cho Nhơn Sanh trong cơn hoạn nạn vì dịch bệnh hiện thời và cho cả những mãnh đời kém may mắn trong cõi Ta bà này.

Vì thế,

Mộc Lan và em gái của mình là Duyên, hai chị em cùng đồng lòng phương hướng đó và lập ra việc nấu thức ăn chay bán cho những người bạn, những người làm việc văn phòng.

Mỗi phần mà hai chị em bán được sẽ hiến vào ngân quỷ của Thánh Thất để lo việc chi dùng cho Đạo và giúp đỡ cho Nhơn sanh khi họ cần.

Không chỉ là Người Đạo Cao Đài mà là tất cả các Tôn Giáo khác, kể cả người không có Đạo.

Vì Thầy có nói: Tất cả chúng sanh đều là con cái của Thầy.

Hai chị em mình chỉ bán thức ăn chay, bởi vì muốn Nhơn Sanh ăn chay nhiều thêm nữa, một bữa ăn chay sẽ làm giảm đi sự sát sanh, và người ăn cũng được cứu rỗi cho linh hồn, bởi vì cho dù họ là Tôn Giáo nào đi chăng nữa, thì sự đoạ đày cũng giống như nhau.

Lần đầu tiên, em gái của Mộc Lan tự tay nấu ra những tô phở chay rất ngon, bán được một ít tiền, em ấy hỷ hiến hết số tiền đó cho Thánh Thất Perth để góp phần tu sửa. Tuy rằng số tiền không nhiều, nhưng đó là niềm vui lớn nhất của em gái mình vì đã ngăn chặn được sự gián tiếp sát sinh của mấy chục người trong một buổi ăn ngày hôm đó.

Mộc Lan thiết nghĩ, Tu không hẳn sáng tối tụng kinh niệm kệ mà quên đi thế sự dẫy đầy đau thương của Nhơn loại.

Tuy rằng cái khổ của con người đang gánh chịu không phải là một sự ngẫu nhiên, cũng không phải là một hình phạt của các Đấng Thần Linh, mà là nguồn gốc của sự đau khổ do chính mình tạo ra hôm nay và nhiều kiếp trước.

Vì thế khi Tu phải nghĩ ra phương cách để cứu rỗi cho linh hồn mình và cho cả chúng sanh thoát ly khổ nạn, nghiệp chướng thì mới đặng.

Niềm vui của hai chị em mình bây giờ là biết được những người bạn rất thích ăn chay khi được ăn những món em mình nấu. Và họ lại muốn chị em mình nấu cho họ ăn nữa.

Vì thế hai chị em mình sẽ tiếp tục nấu cho tới khi bệnh dịch coronavirus giảm, hoặc không còn bị lockdown.


 

Embracing new challenges in the face of Covid-19 pandemic

Translated by Jonathan & Yến Mai. (*)

This has been the second significant outbreak of Covid-19 on Earth, with most people believing that this is the third worldwide disaster which could possibly eliminate the majority of human life from this planet. This has caused people to become more terrified and distressed, leading to mass panic-buying from grocery stores and other drastic measures that had been taken.

People subconsciously believe that it is their fate to be eradicated by this pandemic, but, of course, nobody wants to truly accept it. However, there are ways to be useful and productive during these trying times. Instead of sitting there, feeling futile and frightened, why don’t we, as a species, work together to think of something to do that can benefit others in need, especially to those whose lives have been absolutely ruined by the Covid Outbreak.

For me, I have already found an answer in how I could support other people, with there being a driving force for me to do it. First and foremost, I need to make some money! But how, you may ask?

Moc Lan and my sister, Duyen, both had the same idea as me in aiding other people, so we decided to work together in cooking vegetarian meals and deliver them, those who are stuck at home or at work. Whatever income we earned, the money will be donated to the Temples in the area, so the funds can be used to assist other people who are in need.

We are only cooking vegetarian food because we want to convince more people to become vegetarian. With more people becoming vegetarian, this will reduce the number of animals slaughtered for their meat and help their soul after death from guilt and punishment. No matter what religion they are, the outcome will be the same on their soul.

Initially when Duyen worked alone and had to cook those delicious bowls of veggie noodle soup by herself, she barely made any money, but still donated it all to a temple in Perth for renovations. It wasn’t much, yet she was extremely delighted because she had stopped a few people from the guilt of animal killing with the consumption of those meals.

Moc Lan says:

“’Tu’ (Practice the Way) is not just reading the bible or praying to God, but also wanting to see other people not be in pain or engulfed in sadness.”

So, when we ‘Tu’, we must find ways to help ourselves and also help others from their pain and the sadness in their lives.

Our happiness now is that we are aware that our friends enjoy eating vegetarian food and knowing they love the food that we cooked for them. They even want us to continue cooking when the pandemic is over, due to how delicious the meals were. So, we have decided to carry on with cooking more vegetarian meals even after the Covid Lockdown is lifted.

Tâm Tình Chuyện Đạo.

Mộc Lan cẩn bút.

16/7/2021

 

(*) Correction: "Translated by Dylan & Yến Mai" instead of "Translated by Jonathan & Yến Mai".
We apologize to the authors and readers for this error. BTHH.

 

 


 

 

How I turned my passion into compassion during the COVID-19 pandemic


Duyen Pham

As we may all know, COVID-19 has put this country to a halt with home-schooling, business closures, and health workers stretched. We have been affected now more than ever. Fortunately, this pandemic has taken a turn on me for the better. I have become stronger both mentally and physically. Ironically, COVID-19 has given me the opportunity to help those that are less fortunate than me. During this tough time, I made the decision to cook and deliver vegetarian meals to raise and gather funds to help those in need.

It all started with my baking business many years ago. I used to bake cupcakes and donate my profits to multiple charities. Although, I wanted to expand on this idea but with a little less sugar! From there, I thought of a great idea to sell home-cooked vegetarian meals to help raise funds for those affected by the Vietnam floods. I chose to cook vegetarian meals specifically because I personally felt like it was a good way to help others without harming anything else. It was a success! I managed to sell over 50 bowls which was such a proud moment for me. It made me feel so accomplished for being able to do charity work and help so many people - something I had been wanting to do for a while now.

I felt so much joy from the first good deed that I had accomplished that I wanted to keep going. One day after praying at my Thánh Thất, there was an announcement made in regards to our temple in Perth, which was getting old and in desperate need of some repairs. I decided to repeat my first good deed by making and selling more vegetarian dishes, but this time I made pho and it was also a big success. From there my lovely sister Mộc Lan then thought of a great idea to join hands and cook together to raise money for our Temple and to also help those in need. The money we raise will continue to help repair our temple, and also provide those who are struggling with the most basic essentials in life.

Although I make these meals, I couldn’t have raised the money without the support of my loving friends and family. So I thank my loving community for helping me accomplish these goals.

Duyen Pham

 

 


 

 


Câu Chuyện Thầy Lang


Phòng Bệnh Hơn Chữa Bệnh

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

Kinh nghiệm cổ nhân Âu Á đều cho rằng ngăn ngừa bệnh là việc làm cần thiết và quan trọng hơn là để bệnh xảy ra rồi mới trị bệnh.

Thực vậy, khi có dấu hiệu thì bệnh đã gây ra những rối loạn về tinh thần và tàn phá về thể chất của con người. Và dĩ nhiên khi bệnh đã xảy ra là phải chữa chạy, nếu không thì đời sống sẽ bị thu ngắn.

Bà An ăn uống buông thả để đến nỗi ngày một mập phì, dư ký rồi bị bệnh tiểu đường. Đường huyết lên cao, gặm nhấm những mạch máu nhỏ của võng mạc, đưa tới thoái hóa thị lực. Đường huyết quá cao, làm suy nhược tế bào cấu tạo trái tim, tim bóp yếu, máu ra ít, thiếu chất dinh dưỡng nuôi cơ thể. Rồi lâu ngày bản thân trái tim cũng rối loạn trong nhịp đập. Lại còn suy thận, rối loạn cảm giác bàn chân, bàn tay.

Ông Lưu tiếp tục phì phèo khói thuốc lá cả hơn hai chục năm, rồi bị ung thư phổi. May mà khám phá ra sớm, bệnh chỉ mới khoanh gọn một cục nhỏ, chưa kịp di căn, phẫu thuật cứu mạng. Nhưng một phần của lá phổi đã ra đi, nên sự hô hấp trở thành khó khăn, thay đổi thời tiết là khó thở, ho hen suyễn lên suyễn xuống.

Bây giờ ngồi nghĩ lại thì bà An, ông Lưu mới “giá mà, ví thử”.

Giá mà mình bớt mồm bớt miệng, giữ gìn ăn uống, không mập phì.

Ví thử như mình nghe lời bà xã can ngăn, không hút thuốc.

Thì đâu bây giờ phải mang họa vào thân.

Vì thế, phòng bệnh được coi như ưu tiên hơn chữa bệnh là vậy.

Quan niệm phòng bệnh hơn chữa bệnh chẳng phải mới mẻ gì.

Từ thuở xa xưa, các bà mụ của ta đã biết rửa tay sạch sẽ trước khi đỡ đẻ, đã hơ nóng dao kéo trong lửa trước khi cắt rún để mẹ con không bị uốn ván, nóng sốt.

Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791) đã khuyên:

“Chớ dùng nước ruộng nước ao,
Nước hồ nước vũng, nước nào cũng dơ.
Chỉ dùng nước giếng nước mưa,
Nước sông nước suối cũng chưa an toàn.”

vì nước từ trời rơi xuống, không có loăng quăng, bọ gậy, vẩn đục như nước sông nước ao gây ra đau bụng, tiêu chảy.

Danh y Hoa Kỳ Oliver W. Holmes (1809-1894), Giáo sư Đại học y Harvard, có viết “To guard is better than to heal; The shield is nobler than the spear”. Đề phòng tốt hơn chữa trị; Tấm mộc tuyệt hảo hơn cái giáo”.

Khoa học ngày nay đã hệ thống hóa và cổ võ, phổ biến sự phòng tránh bệnh khiến cho nhiều loại bệnh một thời tung hoành đều đã bị xóa sổ và một số bệnh khác cũng giảm tần số, nhờ đó tuổi thọ nâng cao.

Phân loại

Một cách tổng quát, phòng bệnh có nhiều cấp với mục tiêu khác nhau.

- Phòng tránh loại 1

Ngăn ngừa không cho bệnh tật hoặc các điều kiện xấu xảy ra.

Thí dụ dùng bao cao su để tránh nhiễm trùng khi giao hợp, chủng ngừa các bệnh nhiễm như yết hầu, tê liệt trẻ em, viêm gan A và B…

- Phòng tránh loại 2

Nhận diện, khám phá ra các mầm bệnh từ lúc chưa có dấu hiệu hoặc chưa có thay đổi chức năng, cấu tạo các bộ phận, rồi áp dụng điều trị ngay để trì hoãn hoặc ngăn chặn không cho bệnh xuất hiện.

Chẳng hạn như chụp x-quang nhũ hoa để sớm tìm ra ung thư vú, đo huyết áp theo định kỳ để sớm biết huyết áp có cao…

- Phòng tránh loại 3

Ngăn ngừa không cho biến chứng, hậu quả xấu của bệnh tật xảy ra.

Chẳng hạn tránh khuyết thị, suy tim, suy thận trong bệnh tiểu đường, hoặc áp dụng vật lý trị liệu, y khoa phục hồi để lấy lại sự cử động của chân tay bị tê liệt sau tai biến não…

Nguy cơ cần phòng tránh

Khi phòng tránh thì phải biết phòng tránh với những tác nhân, những nguy cơ gây bệnh nào. Chẳng hạn:

- Ảnh hưởng xấu của môi trường như thời tiết khắc nghiệt, thiên tai bão lụt.

- Hậu quả của chiến tranh, bạo lực.

- Sự xâm nhập của vi sinh vật, hóa chất độc hại.

- Nếp sống không bình thường của con người.

- Hậu quả, biến chứng của bệnh hoạn, thương tích.

- Những biến đổi, thoái hóa tự nhiên trong cấu tạo và chức năng các bộ phận cơ thể.

- Hậu quả không lường trước của khoa học, kỹ thuật.

- Ảnh hưởng cùa các hoàn cảnh xã hội như nghèo khó, kém giáo dục, bất công xã hội, bất lực độc quyền hành chánh.

Nơi áp dụng phòng tránh

- Tại cơ sở y tế như bệnh viện, phòng khám bệnh của bác sĩ hoặc trong địa bàn hoạt động cộng đồng.

- Qua nếp sống lành mạnh của mỗi cá nhân: dinh dưỡng cân bằng hợp lý, không lạm dụng rượu thuốc cấm, vận động cơ thể đều đặn…

- Cải thiện môi trường như cung cấp nguồn nước uống tinh khiết, giảm thiểu ô nhiễm không khí.

- Qua các hành động xã hội, chính trị, kinh tế, học vấn…như cung cấp kiến thức về bệnh tật, giảm thiểu nghèo khó, bảo đảm an ninh khu phố xóm làng, bài trừ tệ đoan xã hội…

Một thí dụ để giảm bệnh do hút thuốc lá cần sự hợp tác của nhiều biện pháp như giới hạn hút thuốc ở từng địa điểm, không quảng cáo thuốc lá, giải thích cho quần chúng về tác hại của thuốc lá với sức khỏe, đưa ra các phương thức giúp người ghiền ngưng hút thuốc…

Đồi tượng của áp dụng phòng tránh

- Toàn thể dân chúng với các hướng dẫn chung về sức khỏe, bệnh tật, về y khoa phòng ngừa, dinh dưỡng.

- Riêng rẽ cho tuổi tác và nam nữ với bệnh riêng của mỗi nhóm.

- Cho những người có nhiều rủi ro mắc bệnh từ bẩm sinh khi có bệnh di truyền trong gia đình.

- Những người vì lý do hoàn cảnh nghề nghiệp mà tiếp cận với nguồn gây bệnh như công nhân hầm mỏ, rừng thiêng nước độc, trong kỹ nghệ hóa chất, chăm sóc bệnh nhân.

Ưu khuyết điểm của phòng ngừa

Phương pháp phòng tránh có ưu, khuyết điểm.

Ưu điểm như:

- Một số bệnh nhiễm đã bị xóa sổ, một số khác giảm hẳn nhờ có chủng ngừa.

- Tỷ lệ ung thư cổ tử cung giảm kể từ khi phương pháp thử nghiệm Pap được áp dụng.

- Tử vong do tai nạn xe cộ giảm vì người điều khiển xe ý thức được sự ích lợi của dùng dây an toàn trên ghế và đội nón bảo hiểm.

- Tỷ lệ biến chứng tai biến não giảm nhờ dân chúng biết cách phòng ngừa bệnh cao huyết áp, cao cholesterol trong máu.

Chiến dịch cổ võ ngưng hút thuốc lá đã giảm thiểu rủi ro ung thư phổi…

Và nhiều thí dụ khác.

Tuy nhiên, sự phòng tránh cũng tạo ra vài khó khăn, trở ngại, chẳng hạn:

- Chủng ngừa bệnh có thể gây tác dụng phụ hoặc gặp sự chống đối vì lý do tôn giáo.

- Áp dụng kỹ thuật phát hiện bệnh có thể gây ra tai nạn như nội soi làm thương tổn ruột già.

- Ngồi xe lăn để có thể di chuyển thì cũng có thể té ngã, lật xe…

- Áp dụng phòng ngừa tốn kém tài chánh cho nhà nước và cá nhân.

- Phát kim chích cho người ghiền để tránh lây lan HIV là khích lệ họ chích choác, phát bao cao su la khích lệ hoạt động tình dục.

Kết luận

Nói chung, sự phòng ngừa bệnh có nhiều tác dụng tốt hơn là một số trục trặc khiêm nhường.

Chẳng thế mà Thomas A. Edison (1847-1931), nhà sáng chế lỗi lạc của Hoa Kỳ đã tiên đoán: “Trong tương lai, bác sĩ sẽ không biên toa thuốc mà sẽ làm cho bệnh nhân quan tâm nhiều hơn tới sự chăm sóc cơ thể, dinh dưỡng và nguyên nhân cũng như sự phòng tránh bệnh tật”.

Vì theoTiến sĩ John Knowles, nguyên Chủ Tịch Quỹ Rockefeller Foundation: “Hơn 99% chúng ta đều khỏe mạnh khi sinh ra và chỉ trở nên bệnh hoạn vì hậu quả của hành động cá nhân không đúng đắn và của các điều kiện môi trường”.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Texas-Hoa Kỳ.

 

Nguồn: khoahoc.net ngày 31 tháng 01 năm 2008.
(http://www.khoahoc.net/baivo/nguyenyduc/310108-phongbenhhonchuabenh.htm).◙

 


 

 


Uyên Trang phụ trách

BÁNH RÁN MÈ NỨT

Cách làm bánh mè nứt chiên giòn xốp thơm ngon hấp dẫn.

Bánh rán mè nứt thơm phức, giòn xốp cùng vị ngọt bùi, beo béo, nhâm nhi với trà nóng thì hấp dẫn hết chổ chê trong mùa đông này. Món bánh có công thức trộn bột rất đơn giản. Mời các bạn vào bếp ngay nhé!

Nguyên liệu làm bánh rán mè nứt cho 16 cái bánh mè:

1. Bột mì đa dụng (self raising flour) – 120gr.

2. Bột nổi (baking powder) - 1/2 muỗng cà phê.

3. Bột gạo - 1 muỗng canh.

4. Bột năng - 2 muỗng canh.

5. Trứng gà (loại 700gr) - 1 quả.

6. Mè trắng - 40gr.

7. Dầu ăn - 3 muỗng canh.

8. Đường - 3 muỗng canh.

9. Muối - 1/4 muỗng cà phê.

10. Vani -1 ống

Cách chế biến bánh rán mè nứt:

1. Trộn bột khô

Cho vào tô 120gr bột mì, 1 ống vani, 1/2 muỗng cà phê bột nổi, 1 muỗng canh bột gạo, 2 muỗng canh bột năng. Trộn đều cho hỗn hợp hòa quyện đều.

2. Đánh trứng

Cho vào tô mới 1 quả trứng gà, 3 muỗng canh dầu ăn, 30ml nước, 1/4 muỗng cà phê muối, 3 muỗng canh đường. Dùng đũa bếp khuấy đều đến khi đường tan hoàn toàn.

3. Trộn bột

Cho hỗn hợp bột khô vào tô trứng, nhồi đều tay đến khi hỗn hợp tạo thành khối dẻo mịn.

Tiếp theo, bọc kín tô bột bằng màng bọc thực phẩm và để vào ngăn mát tủ lạnh 1 tiếng.

4. Tạo hình

Đầu tiên, chia bột thành 4 phần bằng nhau, sau đó lăn dài thành khối trụ có chiều dài khoảng 1 gang tay.

Tiếp theo, cắt từng khối bột thành 4 viên bột nhỏ. Sau đó, áo đều qua 1 lớp mè trắng. Tiếp đến, bạn vo bột lại cho thật tròn nhé. Để bột bung ra đẹp mắt khi chiên, bạn đừng vo tròn bột chặt quá nhé.

Nếu bạn lỡ tay vo tròn bột chặt quá, thì bạn cũng đừng lo. Dùng kéo cắt hoặc dao khứa 2 đường chéo nhau lên viên bột. Sau đó lăn qua mè và chiên bình thường là được.

5. Chiên bánh

Bắc một chảo dầu lên bếp và đun trên lửa vừa cho đến khi dầu thật nóng.

Lưu ý - Khi cho bánh vào chiên, nếu, dầu không đủ độ nóng thì sẽ làm lớp mè bên ngoài bánh bị rớt ra.

Sau đó, cho bánh vào chiên đến khi bánh nứt và vỏ ngoài vàng nâu là được.

Bánh vừa chiên xong sẽ có mùi thơm nức mũi tương tự bánh tiêu, lớp vỏ bên ngoài giòn xốp, bên trong thì mềm nhẹ, bùi ngọt, beo béo, thơm ngon và hấp dẫn vô cùng.

Mời cả nhà cùng thưởng thức nhe. Chúc các bạn thành công. ♬♬♬

 


 

 

 


 

 


 


Uyên Trang sưu tầm

 

Tăng Phí Vì Làm Mất Khách

Nha sĩ nói với bà mẹ bệnh nhân:

- Tôi rất lấy làm tiếc, nhưng tôi buộc phải yêu cầu bà trả 50 franc cho việc nhổ răng của cậu nhà.

- Những 50 franc? Lúc đầu ông nói giá của việc đó là 10 franc cơ mà!

- Đúng vậy, nhưng cậu ấy la hét quá to, làm cho 4 bệnh nhân chờ ở ngoài kia bỏ chạy cả rồi!

 

Hoạt Động Về Đêm

- Cô giáo: Bo, em hãy cho cô biết con gì hoạt động về đêm?

- Bo: Thưa cô, con ma ạ!

- Cô giáo: ??!

 

Mất Ngủ Vì Làm Đúng Lời Bác Sĩ Dặn

Có một người đàn ông bị chứng mất ngủ nhiều ngày đến than với một bác sĩ thần kinh rất giỏi về điều trị bệnh mất ngủ:

– Thưa bác sĩ, tôi bị bệnh không ngủ được nhiều ngày nay rồi!

– Sau khi kiểm tra các xét nghiệm, vị bác sĩ không cho thuốc mà chỉ dặn bệnh nhân: Khi anh lên giường đi ngủ, anh hãy đếm từ 1 đến 2000. – Anh hiểu chưa?

– Dạ hiểu rồi Bác sĩ – người đàn ông vui vẻ đáp.

Một tuần sau, anh ta đến tái khám. Bác sĩ hỏi:

– Mấy hôm nay anh ngủ ngon chứ?

Người đàn ông buồn bã lắc đầu:

– Tôi nghe lời bác sĩ mới đếm đến 1000 thì buồn ngủ díu mắt lại, nhưng vì nhớ lời dặn của bác sĩ nên phải dậy pha một ly cà phê đen đậm để đếm nốt 1000 còn lại.

– Bác sĩ - !!!

 

Anh Cũng Thế!

Một cô gái rất sợ ma phải đi học thêm vào buổi tối, đường đi học có một đoạn rất vắng vẻ.

Cô luôn hi vọng có người nào đó đi cùng đường với mình cho đỡ sợ.

Một hôm cô thấy có một chàng trai phía trước đạp xe cùng chiều với mình.

Mừng quá, cô chạy lên để đi cùng, sau một lúc trò chuyện, cô gái nói: “Em sợ ma lắm, đi một mình đoạn đường này em sợ lắm, cảm ơn vì đã có anh đi cùng!”

Chàng trai mỉm cười nhìn cô gái, trìu mến: Hồi còn sống anh cũng thế!

 

 


 

 


 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 


 

 

Chủ trương của Bản Tin Hòa Hiệp

Bản Tin Hòa Hiệp: Phổ biến tin tức Đạo sự gần xa; liên lạc, trao đổi kinh nghiệm hiểu biết; học hỏi, hợp tác thân hữu với các Tôn Giáo bạn, các Đoàn Thể xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu và mục tiêu hướng thượng, nhằm phục vụ không biên giới cho Đạo lẫn Đời.

Bản Tin Hòa Hiệp: Xin đón nhận mọi ý kiến đóng góp xây dựng, bài vở với bất kỳ thể loại; ưu tiên trong lãnh vực biên khảo, nghiên cứu đạo giáo, triết học, khoa học kỹ thuật, văn học nghệ thuật phục vụ nhân sinh của chư vị thức giả đạo hữu, đạo tâm... miễn nội dung không nhằm mục đích: làm diễn đàn chính trị, bài kích cá nhân, tập thể; kỳ thị dưới mọi hình thức; gây chia rẽ nội bộ; đi ngược lại tôn chỉ, mục đích và đường lối của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh.

 

CHỦ TRƯƠNG: Tộc Đạo Sydney.
CHỦ BÚT: Quyền Đầu Tộc Đạo Hiền Tài Nguyễn Thành Nghiệp.
BAN BIÊN TẬP: Bạch Sỹ - Thanh Nguyên - Ái Nhân - Lê Phong - Song Kha - Trần Nguyên Đức - Uyên Trang - Đức Nhân - Mộc Lan - Nguyên Chương.
TRÌNH BÀY & IN ẤN: Huỳnh Trọng - Trần Đại Thiện - Trần Lê Phong.

 

CAODAI TEMPLE OF NEW SOUTH WALES
HOA HIEP - VIETNAMESE NEWSLETTER
114-118 King Georges Road  WILEY PARK NSW 2195 - AUSTRALIA
Phone & Fax: + 61 2 9740 5678
Email: thanhthatnsw@yahoo.com.au ; thanhnghiep.caodai@yahoo.com.au